|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 109/2024/HS-PT Ngày 21 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Lâm; Ông Phạm Văn Hùng.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:
Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thị R do có kháng cáo của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (viết tắt bản án sơ thẩm).
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị R, sinh ngày 01/01/1957; tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Lê Thị R1 (chết); có chồng là Ngô Quan T và 06 người con (lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1992); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị bắt tạm giữ, tạm giam: không; có mặt.
Ngoài ra vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không có kháng cáo hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/9/1995 ông Ngô Quan T tranh chấp đất với ông Thái Thanh H diện tích đất 5.317m², tọa lạc tại ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Cần Thơ cũ, nay là ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Ngày 22/11/1995, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ ban hành Quyết định số 92/QĐ.UBH.95 giải quyết tranh chấp đất giữa ông H và ông T, cho ông H được quyền sử dụng phần đất diện tích đất 3.260m², giải quyết cho ông T được quyền sử dụng phấn đất diện tích là 1.057m² và giao cho Ủy ban nhân dân xã P quản lý 1.000m². Ngày 13/12/1997, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000325.QSDĐ cho ông H, tờ bản đồ số 07, thửa số 117, diện tích 2.250m², mục đích sử dụng LNK và thửa số 935, diện tích 1.010m², mục đích sử dụng LNK, thời gian sử dụng 50 năm. Sau đó ông T khiếu nại, ngày 29/10/1998 Ủy ban nhân dân tỉnh C ban hành Quyết định số 2798/1998/QĐ.CLNC giải quyết khiếu nại của ông T công nhận quyết định giải quyết tranh chấp đất trên của Ủy ban nhân dân huyện C. Ông T tiếp tục khiếu nại tranh chấp diện tích đất 3.260m² mà Ủy ban nhân dân huyện C đã giải quyết cho ông H nhưng không được giải quyết.
Ngày 16/10/2013 ông H ủy quyền cho con gái là Thái Như N chuyển nhượng diện tích đất trên cho ông Nguyễn Văn T1, đo đạc thực tế diện tích đất chuyển nhượng là 3.088,8m². Ngày 23/11/2014 Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN CH00017, thửa số 01, tờ bản đồ số 17, diện tích 3.088,8m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng 13/12/2047 do ông T1 đứng tên chủ sử dụng.
Sau khi mua đất nhưng không canh tác được do phía bên ông T ngăn cản, ông T1 khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Ngày 18/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử vụ tranh chấp quyền sử dụng đất bằng Bản án số 70/2015/DS-ST, không chấp nhận khởi kiện của ông T1, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T và hủy Giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN CH00017, thửa số 01, tờ bản đồ số 17, diện tích 3.088,8m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến 13/12/2047.
Ông T1 kháng cáo, ngày 02/10/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất bằng Bản ăn số 178/2017/DS-PT, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1 và hủy Bản án số 70/2015/DS-ST ngày 18/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Ngày 28/3/2019 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử lại vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất bằng Bản án số 04/2019/DS-ST, chấp nhận đơn khởi kiện của ông T1, không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T. Buộc ông Ngô Quan T và vợ là bà Nguyễn Thị R phải giao phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế 2.928,5m² và cây trồng, chuồng heo trên đất cho ông T1 theo giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00017, thửa đất số 01, tờ bản đồ số 17, diện tích 2.928,5m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến 13/12/2047. Ông T kháng cáo, ngày 10/9/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án Đòi lại quyền sử dụng đất bằng bản án số 115/2019/DS-PT, buộc ông Ngô Quan T và bà Nguyễn Thị R phải giao phần đất có diện tích 2.928,5 m² và cây trồng, chuồng heo trên đất cho ông T1. Ông T có đơn yêu cầu giám đốc thẩm, ngày 25/10/2021 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Thông báo số 1978/TB-TA trả lời đơn của ông T không có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Ngày 01/12/2020, Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 175/QĐ-CCTHADS Thi hành án theo yêu cầu buộc ông T và bà R phải giao phần đất có diện tích 2.928,5m² nêu trên và cây trồng, chuồng heo trên đất, nhưng ông T và bà R không chấp hành bản án và không giao đất theo bản án đã tuyên.
Ngày 02/6/2021 Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 13/QĐ-CCTHADS Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất, diện tích 2.928,5m² đất và cây trồng, chuồng heo trên đất. Ngày 11/01/2022 C thi hành án tiến hành lập biên bản về việc cưỡng chế giao đất và các tài sản gắn liền với đất đối với ông T và bà R, nhưng ông T bà R không chấp hành bản án, không ký tên vào biên bản. Ông T1 nhận đất từ Chi Cục thi hành án dân sự và tiến hành cắm ranh (mốc), sau khi Chi C thi hành án dân sự bàn giao đất cho ông T1. Bà R không chấp hành bản án, không giao đất và cản trở không cho ông T1 canh tác được trên thửa đất trên. Ủy ban nhân dân xã Đ và các ban, ngành, đoàn thể đã nhiều lần đến nhà bà R vận động bà R chấp hành bản án và giao đất cho ông T1 nhưng bà R kiên quyết không chấp hành bản án, không giao đất và có hành vi cản trở không cho ông T1 vào canh tác.
Ngày 17/3/2023 bà R đã rào lưới B40 hết phần đất mà Bản án số 115/2019/DS-PT ngày 10/9/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang đã tuyên mục đích ngăn cản không cho ông T1 vào canh tác.
Ngày 04/4/2023 ông T1 thuê công nhân vào cắm ranh và làm hàng rào trên phần đất đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang nhưng bà R và Ngô Bích T2 (con ruột bà R) tiếp tục ngăn cản không cho làm và từ đó đến nay ông T1 không canh tác được trên phần đất này.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã nhiều lần gửi giấy triệu tập bà Nguyễn Thị R để hỏi cung nhưng bà R không nhận giấy triệu tập và không đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C hợp tác điều tra.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nhan Phước T3 là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu bà Nguyễn Thị R bồi thường thiệt hại do không canh tác được, không chuyển nhượng được đất và phần vật tư xây dựng hàng rào, ranh với số tiền 350.000.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị R phạm tội Không chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 380; điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị R kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày quan điểm:
Kháng cáo của bị cáo là đúng theo quy định của pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 380 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội Không chấp hành án, xử mức hình phạt 09 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo yêu cầu huỷ bản án, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trình bày lời bào chữa: Bị cáo không phạm tội, bị cáo đang khiếu nại Bản án số 115 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang. Bị cáo không thi hành án là muốn bảo vệ tài sản của mình.
Phát biểu đối đáp: không.
Nói lời sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2]. Về tội danh: tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo vắng mặt nên không có lời khai. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo khai có thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm nêu, nhưng cho rằng hành vi của mình không phạm tội. Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Bản án số 115/2019/DS-PT, ngày 10/9/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang có hiệu lực thi hành. Buộc bị cáo và chồng là ông Ngô Quan T giao diện tích 2.928,5 m², cây trồng, chuồng heo trên đất cho ông Nguyễn Văn T1. Ủy ban nhân dân xã Đ và các ban, ngành, đoàn thể đã nhiều lần đến nhà vận động bị cáo chấp hành bản án; Chi cục Thi hành án tiến hành cưỡng chế giao đất, bị cáo không ký tên vào biên bản; ông T1 nhận đất nhưng không canh tác được, do bị cáo rào lưới B40 cản trở. Xét thấy, bị cáo là đối tượng phải thi hành án, nên nhận thức được Bản án số 115/2019/DS-PT, ngày 10/9/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang có hiệu lực thi hành, bị cáo có trách nhiệm thực hiện theo nội dung án tuyên “Giao diện tích đất 2.928,5 m², cây trồng, chuồng heo trên đất cho ông Nguyễn Văn T1”, nhưng bị cáo không thực hiện, dù được cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế, nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo phạm tội Không chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- [4]. Xét kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo kháng cáo yêu cầu huỷ án, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bản án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại phiên toà bị cáo cho rằng đã làm đơn yêu cầu xem xét lại Bản án số 115/2019/DS-PT, ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo trình tự tái thẩm và được Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận đơn, nên yêu cầu huỷ án chờ kết quả giải quyết đơn là không có căn cứ chấp nhận. Bởi theo quy định của pháp luật, bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Việc bị cáo gửi đơn, Toà án cấp cao nhận đơn, làm giấy xác nhận có nhận đơn, nhưng không có ý kiến về việc tạm dừng thi hành bản án, nên không ảnh hưởng đến việc bị cáo phải tiếp tục chấp hành bản án.
- [5]. Với những nhận định như nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [6]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo hiện tại là người cao tuổi, theo quy định của pháp luật luật đáng lẽ ra bị cáo được miễn. Tuy nhiên, quá trình điều tra, cũng như tại các phiên toà, bị cáo không thể hiện yêu cầu xin miễn án phí, nên buộc bị cáo chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo ngày 27 tháng 8 năm 2024 của bị cáo Nguyễn Thị R, yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị R phạm tội Không chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 380; Điều 38; điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R 09 (chín) tù. Thời hạn tính từ ngày chấp hành án.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị R chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2024).
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Võ Thái Sơn |
Bản án số 109/2024/HS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về hình sự (không chấp hành án)
- Số bản án: 109/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Không chấp hành án)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ý án
