|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2025/HS-ST Ngày: 25 - 11 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Chí Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Lệ
Bà Chung Kim Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ưng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - An Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 10/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HS ngày 20/10/2025 đối với bị cáo:
Phạm Quốc Đ2, sinh ngày 13/12/1995 tại phường R, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Số G đường N, phường R, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hữu T và bà Thị M.
- Tiền án:
- + Ngày 14/7/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang), xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 28/8/2014, chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.
- + Tại Bản án số 11, ngày 02/4/2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang), xử phạt 03 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngày 24/8/2017, chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.
- + Tại Bản án số 73, ngày 16/5/2019, Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang), xử phạt 05 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đến ngày 21/12/2022, chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.
- + Tại Bản án số 265, ngày 23/11/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang), xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngày 14/12/2024, chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.
- Tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2025 và tiếp tục tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam H, Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh A.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Ban Quản lý dự án phường V.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn Đ – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàng K – Cán bộ kỹ thuật Ban Quản lý dự án phường V (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Phạm Trí T1, sinh năm 1988 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số G đường N, phường R, tỉnh An Giang.
- - Ông Phạm Hữu T, sinh năm 1961 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số G đường N, phường R, tỉnh An Giang.
Người làm chứng:
- - Ông Đặng Quan N, sinh năm 1981 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số 1 đường C tháng D, phường R, tỉnh An Giang.
- - Ông Lê Hửu V, sinh năm 1981 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số B đường N, phường V, tỉnh An Giang.
- - Ông Lê Phước S, sinh năm 1976 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số B đường N, phường V, tỉnh An Giang.
- - Ông Lê Thành C, sinh năm 2008 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số B đường N, phường V, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc Đ2 là người có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa xóa án tích. Vào khoảng 03 giờ, ngày 15/6/2025, Phạm Quốc Đ2 rủ Phạm Trí T1 là anh ruột của Đ2 đi cắt trộm dây điện của hệ thống chiếu sáng công cộng để bán lấy tiền tiêu xài thì T1 đồng ý. Khi đi, Phạm Quốc Đ2 chuẩn bị một cây kéo màu vàng để dùng cắt dây điện và một bao bằng nhựa để chứa dây điện sau khi trộm được. Sau đó, Đ2 điều khiển xe gắn máy, nhãn hiệu FERROLI, màu đỏ-đen, biển số 68AA-009.82 chở Phạm Trí T1 đi tìm tài sản để lấy trộm. Khi cả hai đi đến, bãi đất trống cạnh nhà ông Bùi Minh Đ1, tại số C, đường K, tổ D, khu phố F, phường V, thành phố R, Kiên Giang (nay là phường V, tỉnh An Giang) thì cả hai phát hiện đoạn đường vắng, không có người thì Phạm Quốc Đ2 dừng lại. Khi đó, Đ2 trèo lên trụ điện bằng kim loại dùng kiềm mang theo cắt trộm dây cáp điện còn Phạm Trí T1 ở bên dưới cảnh giới. Khi Đ2 cắt dây cáp ở trụ điện bằng kim loại xong thì cả hai tiếp tục đi đến trụ điện NL 10-1.14 cặp hông nhà ông Bùi Minh Đ1 (phía bên trái nhìn từ ngoài vào), cách trụ điện bằng kim loại khoảng 33 mét (hướng từ đường K ra đường M) cắt tiếp đầu dây cáp còn lại và lấy trộm được 32 mét dây cáp điện (loại dây đôi), nhãn hiệu Cadivi Duplex 2x10mm2, trắng-đen, lõi đồng của Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là Ban quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang). Đến khoảng 05 giờ 15 phút cùng ngày, khi T1 đang cuộn dây điện bỏ vào bao định tẩu thoát cùng với Đ2 thì bị lực lượng Công an phường V phối hợp cùng các anh Đặng Quan N, Lê Hữu V1, Lê Phước S, Lê Thành C phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Ngày 23/7/2025, bị can Phạm Quốc Đ2 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để phục vụ điều tra.
* Tài liệu, đồ vật, vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu FERROLI, màu đỏ-đen, biển số 68AA-009.82, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) bao nhựa trắng đỏ, có chữ Princess Bea, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cây kéo, tay cầm màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cuộn dây điện màu trắng-đen, vỏ bằng nhựa, bên trong có lõi đồng, chiều dài 32 mét.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐ ĐGTS, ngày 22/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R, tỉnh Kiên Giang, kết luận:
- Dây Duplex 2x10mm², xuất xứ: Caddivi, đơn vị tính: Mét; Loại dây trắng-đen, lõi đồng, trong từng lõi có 07 sợi, chiều dài thiệt hại 32m, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 15/6/2025 có giá trị là 47.000 đồng/mét. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.504.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 10/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – An Giang đã truy tố bị cáo Phạm Quốc Đ2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Quốc Đ2 về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc Đ2 mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
+ Về phần dân sự: Ông Lê Hoàng K là người được ủy quyền của Ban quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền 2.029.689 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của của Ban quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang nhưng chưa thực hiện đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
+ Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:
- - 01 (một) bao nhựa trắng đỏ, có chữ Princess Bea, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cây kéo, tay cầm màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cuộn dây điện màu trắng-đen, vỏ bằng nhựa, bên trong có lõi đồng, chiều dài 32 mét (do Ban Quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang không đồng ý nhận lại).
Đối với xe gắn máy nhãn hiệu FERROLI, màu đỏ-đen, biển số 68AA-009.82. Qua xác minh, xe trên do ông Nguyễn Văn T2; Nơi cư trú: số A, đường H, phường R, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu, theo thông tin do chính quyền địa phương cung cấp ông Nguyễn Văn T2 không còn ở địa chỉ trên, căn nhà đã bán cho người khác nên không làm việc được. Theo lời khai của ông Phạm Hữu T (sinh năm: 1961) là cha của bị can Đẳng, xe gắn máy trên ông mua lại của người khác (không rõ nhân thân) nhưng không thực hiện việc sang tên chủ sở hữu theo quy định, ông T không biết việc Đ2 sử dụng tài sản của mình làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Điều tra đã trả tài sản lại cho ông T là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bị cáo Phạm Quốc Đ2 thống nhất với kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐ ĐGTS, ngày 22/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Tại phần lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được xem xét giảm cho bị cáo được hưởng án treo để lao động cho cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc Đ2 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 05 giờ 15 phút, ngày 15/6/2025, tại khu vực trước nhà ông Bùi Minh Đ1, số C, đường K, tổ D, khu phố F, phường V, thành phố R, Kiên Giang (nay là phường V, tỉnh An Giang) Phạm Quốc Đ2 cùng Phạm Trí T1 bị bắt quả tang về hành vi cắt trộm 32 mét dây cáp điện (loại dây đôi), nhãn hiệu Cadivi Duplex 2x10mm², trắng-đen, lõi đồng của Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là Ban quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang). Qua định giá có giá trị là 1.504.000 đồng. Mặc dù, giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức định lượng theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nhưng do Phạm Quốc Đ2 có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa xóa án tích nên hành vi đã cấu thành tội phạm.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ. Theo đó, hành vi của bị cáo Phạm Quốc Đ2 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; ... điểm b: Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - An Giang truy tố bị cáo với tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị; nhưng vì lười lao động chân chính, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác mà còn gây mất an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả bị cáo đã gây ra, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo được tính phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Quốc Đ2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo Phạm Quốc Đ2 đã nhiều lần bị kết án, chưa được xóa án tích mà còn phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của Ban quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang yêu cầu bị cáo Đ2 bồi thường thiệt hại với số tiền 2.029.689 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của Ban quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang nhưng chưa thực hiện Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 2.029.689 đồng.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:
- - 01 (một) bao nhựa trắng đỏ, có chữ Princess Bea, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cây kéo, tay cầm màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cuộn dây điện màu trắng-đen, vỏ bằng nhựa, bên trong có lõi đồng, chiều dài 32 mét (do Ban Quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang không đồng ý nhận lại).
Theo quyết định chuyển vật chứng số 04, ngày 10/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – An Giang.
Đối với xe gắn máy nhãn hiệu FERROLI, màu đỏ-đen, biển số 68AA-009.82. Qua xác minh, xe trên do ông Nguyễn Văn T2; Nơi cư trú: số A, đường H, phường R, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu, theo thông tin do chính quyền địa phương cung cấp ông Nguyễn Văn T2 không còn ở địa chỉ trên, căn nhà đã bán cho người khác nên không làm việc được. Theo lời khai của ông Phạm Hữu T (sinh năm: 1961) là cha của bị can Đẳng, xe gắn máy trên ông mua lại của người khác (không rõ nhân thân) nhưng không thực hiện việc sang tên chủ sở hữu theo quy định, ông T không biết việc Đ2 sử dụng tài sản của mình làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Điều tra đã trả tài sản lại cho ông T.
Quá trình điều tra truy tố, xét xử không ai khiếu nại gì về việc xử lý vật chứng và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với Phạm Trí T1, do giá trị tài sản bị chiếm đoạt không đủ định lượng theo quy định đồng thời qua tra cứu Thức không có tiền án, tiền sự liên quan đến tội phạm xâm phạm sở hữu nên hành vi không cấu thành tội phạm. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với T1. Đề nghị Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý hành chính đối với Phạm Trí T1.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Quốc Đ2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, 468, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015;
- Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) bao nhựa trắng đỏ, có chữ Princess Bea, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cây kéo, tay cầm màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cuộn dây điện màu trắng-đen, vỏ bằng nhựa, bên trong có lõi đồng, chiều dài 32 mét (do Ban Quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang không đồng ý nhận lại).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người tham gia tố tụng vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc Đ2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc Đ2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 31/7/2025.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị hại về việc bị cáo Phạm Quốc Đ2 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại Ban quản lý dự án phường V, tỉnh An Giang số tiền 2.029.689 đồng (hai triệu không trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:
Theo quyết định chuyển vật chứng số 04, ngày 10/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – An Giang.
Buộc bị cáo Phạm Quốc Đ2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ BÙI CHÍ LINH |
Bản án số 109/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 109/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
