Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 109/2024/HSST

Ngày 03-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Quốc Hưng
  2. Ông Huỳnh Thiện Khiêm -Bí thư huyện Đoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D;

sinh ngày 24 tháng 11 năm 2006, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Huỳnh Thanh H; vợ chưa có; tiền sự: ngày 25/7/2024, bị Trưởng Công an xã A, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28-9-2024; có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo là ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1981; bà Huỳnh Thanh H, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo ông Lê Minh H1, Trợ giúp viên pháp lý, theo Quyết định số: 329/QĐ-TTTGPL ngày 08/10/2024 của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, Nguyễn Văn D đến khu vực xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 bịch ma túy giá 500.000 đồng về sử dụng. Mua xong, D cất bịch ma túy vào túi áo sơ mi màu đen ngắn tay phía trước đi về nhà. Khi đến cửa hàng B thuộc ấp B, xã A, huyện B, thì bị Công an xã A kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Theo kết luận giám định số 1946 ngày 04/10/2024, của Phòng K Công an T1, thì mẫu tinh thể rắn (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,5150 gam. Hoàn mẫu sau giám định là 0,4447 gam, được niêm phong.

Tại Bản cáo trạng số: 103/CT-VKS-BC ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 91,101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự: đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: về tội danh thống nhất như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông nội của bị cáo có công cách mạng; trong quá trình học tập bị cáo được tặng thưởng giấy khen; lúc thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

Người đại diện cho bị cáo, bị cáo không tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người bào chữa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, Nguyễn Văn D đến khu vực xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 bịch ma túy giá 500.000 đồng về sử dụng. Mua xong, D cất bịch ma túy vào túi áo sơ mi màu đen ngắn tay phía trước đi về nhà; khi đến cửa hàng B thuộc ấp B, xã A, huyện B, thì bị Công an xã A bắt quả tang. Theo kết luận giám định số 1946 ngày 04/10/2024, của Phòng K Công an T1, thì mẫu tinh thể rắn (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,5150 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về các chất ma túy; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý theo pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng; bản thân bị cáo được tặng giấy khen trong quá trình học tập; được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Lời trình bày của người bào chữa là có căn cứ nên chấp nhận.

Lúc thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 04 ngày; cần áp dụng Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự để quyết định hình đối với bị cáo cho phù hợp.

[5] Vật chứng: tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại được niêm phong ghi số 1946, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N và trợ lý Tạ Minh P, có dấu của Phòng K Công an tỉnh T1.

[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, 91, 101 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-9-2024.
  4. Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong ghi số 1946, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N và trợ lý Tạ Minh P, có dấu của Phòng K Công an tỉnh T1.

5. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo, người đại diện biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HSST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 109/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN VAN DUONG - TANG TRU MA TUY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger