|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2025/HS-ST Ngày 12-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Luyện
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hiền
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 12/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HS ngày 29/5/2025; đối với các bị cáo:
- Họ tên: Lê Thị P, sinh năm 1984; tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; nơi cư trú: tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Lê Văn T và bà Trần Thị T1; có chồng: Bùi Văn K và có 03 con; tiền sự, tiền án, nhân thân: chưa có; bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Họ tên: Lưu Văn H, sinh năm 1997; tại huyện H, tỉnh Bắc Giang; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: thôn S, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Lưu Văn H1 và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án: chưa có; tiền sự: tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 120/QĐ-XPHC ngày 18/7/2024 của Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh bạc mua số lô, số đề; đã nộp tiền phạt ngày 23/7/2024. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lò Thị H2, sinh năm 1997; địa chỉ: Bản D, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.
- Anh Ngô Văn N, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Lò Thị H3, sinh năm 2007; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Chí Q, sinh năm 1998; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1981; vắng mặt.
- Anh Lê Đức C, sinh năm 1967; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 20/01/2025 tại Nhà nghỉ H6 do Lê Thị P- sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm quản lý. Đội cảnh sát tội phạm về trật tự xã hội- Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Lê Thị P đang có hành vi chứa mại dâm tại phòng 201 của Nhà nghỉ H6 có 01 cặp đôi đang thực hiện hành vi mua bán dâm gồm: Người mua dâm là Ngô Văn N- sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang và gái bán dâm là Lò Thị H2- sinh ngày 08/3/2006, trú tại bản Duổi Lóng, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; vật chứng thu giữ gồm: T2 trên giường trong Phòng 201 gồm: 01 vỏ bao cao su bề mặt có chữ Trung Quốc, một mặt màu xanh có hình lá cây, mặt còn lại màu trắng bạc; 01 bao cao su màu trắng đục đã qua sử dụng, bên trong có chất dịch màu trắng đục; 03 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, một mặt màu xanh, mặt còn lại màu trắng bạc (Tất cả vật chứng trên đã được niêm phong trong phong bì dán kín theo quy định). Quá trình bắt quả tang, Lò Thị H2 tự nguyện giao nộp 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; Ngô Văn N tự nguyện giao nộp 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, lắp sim thuê bao 0329.403.922.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại Nhà nghỉ H6 do Lê Thị P quản lý. Kết quả thu giữ tại vị trí trên tường bên phải (từ ngoài vào cửa Nhà nghỉ) 01 tờ giấy kích thước (34,5x9,8)cm nền màu trắng, bề mặt có in dẫy số điện thoại 0348.920.xxx màu đỏ.
Tại Cơ quan điều tra Lê Thị P khai nhận số điện thoại 0348.920.xxx được in màu đỏ trên 01 tờ giấy kích thước (34,5x9,8)cm nền màu trắng là số điện thoại của Lưu Văn H- sinh năm 1997, trú tại thôn S, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang đã đến Nhà nghỉ H6 gặp Lê Thị Phương Đ vấn đề với P để số điện thoại 0348.920.xxx của H, khi nào có khánh có nhu cầu mua dâm thì P giới thiệu cho khách gọi điện cho H để H điều gái bán dâm đến bán dâm. Căn cứ lời khai của P, C1 điều tra tiến hành làm việc với Lưu Văn H khai nhận: H là người đã thỏa thuận với Lê Thị P (quản lý Nhà nghỉ H6) cho dán số điện thoại của H tại Nhà nghỉ để khi khách mua dâm có yêu cầu sẽ gọi cho H, H sẽ đưa gái bán dâm đến thuê phòng tại nhà nghỉ của P và có đơn xin đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân; H tự nguyện giao nộp 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, số Imei: 35389410359582, lắp sim thê bao 0348.920.030 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamhaha Exciter, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98D1-615.75.
Cùng ngày, 01/5/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Văn H tại tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra các bị can Lê Thị P, Lưu Văn H và người mua bán dâm đều khai nhận hành vi chứa, môi giới mại dâm như sau: Do không có công việc ổn định nên Lưu Văn H nảy sinh ý định liên kết với nữ nhân viên để bán dâm cho khách khi có nhu cầu mua dâm. Khoảng giữa tháng 01 năm 2025, thông qua mạng xã hội, H quen biết với gái bán dâm Lò Thị H2- sinh năm 2006 và Lò Thị H3- sinh ngày 12/8/2007, đều trú tại bản Huổi Lóng, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên (H khai không biết H3 sinh năm 2007 mà được H3 giới thiệu sinh năm 2005). H đặt vấn đề với H2 và H3 về việc khi khách có nhu cầu tìm gái bán dâm để mua dâm thì sẽ gọi cho H. Khi có khánh mua dâm, H sẽ đưa H2 và H3 đến để bán dâm cho khách. H2 và H3 đồng ý rồi đến ở cùng nhà trọ với H đang thuê tại tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, khi tiếp khách thì H2 và H3 sẽ trực tiếp thỏa thuận với khách giá tiền là 400.000 đồng/1 lần bán dâm, khách sẽ phải trả tiền phòng cho chủ Nhà nghỉ, mỗi lần bán dâm cho khách H2 và H3 sẽ được giữ lại 170.000 đồng/1 lượt bán dâm còn lại H được hưởng số tiền 230.000 đồng.
Khoảng 08 giờ ngày 20/01/2025, Hoàng in số điện thoại 0348.920.xxx của H ra 01 tờ giấy hình chữ nhật, nền màu trắng rồi đến Nhà nghỉ H6 ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, H gặp Lê Thị P là chủ nhà nghỉ và đặt vấn đề với P cho Hoàng dán số điện thoại để khi có khách đến thuê phòng nghỉ và có nhu cầu tìm gái bán dâm để mua dâm thì P liên hệ với H và H sẽ đưa gái bán dâm đến để bán dâm cho khách thì P đồng ý và P nói với Hoàng là cứ dán số điện thoại của H ở cửa Nhà nghỉ, khi khách có nhu cầu mua dâm thì P sẽ bảo số điện thoại để tự liên hệ với H, P chỉ thu tiền phòng của khách và không thỏa thuận ăn chia đối với số tiền mà gái bán dâm thu của khách. Sau đó, H dán tờ giấy in số điện thoại 0348.920.xxx của H ở trên phía trước cạnh cửa ra vào của nhà nghỉ rồi ra về. Khoảng 14 giờ 55 phút ngày 20/01/2025, khi P đang ở quầy lễ tân của Nhà nghỉ thì có Ngô Văn N- sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Chí Q- sinh năm 1998, trú tại tổ dân phố K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đến Nhà nghỉ H6. Tại đây, N đến quầy gặp P hỏi thuê 02 phòng nghỉ thì P nói có Phòng 201 và Phòng 202. Lúc này, N nảy sinh ý định gọi gái bán dâm đến để mua dâm nên nói với P “Chị ơi có nhân viên để chịch không, chị gọi cho em”. P nghe vậy thì biết N muốn gọi gái bán dâm đến nhà nghỉ để mua dâm nên nói với N là “Ra cửa gọi vào số điện thoại có đuôi 030 đấy”. N đi một mình ra cửa nhà nghỉ thì thấy số điện thoại 0348.920.xxx của Hoàng dán ở trên tường nên N dùng số điện thoại 0329.403.xxx của N gọi đến số điện thoại trên của H và nói “Có nhân viên không”, H nói “Có”; N nói “Có được chọn người không” thì H nói “Có”; N tiếp tục nói “Cho hai người đến Nhà nghỉ H6 phòng 201 hoặc 202” và H đồng ý. Sau đó, N đi vào gặp P lấy chìa khoá phòng 201 và phòng 202; N hỏi P “Thanh toán như thế nào” thì P nói “Nhà chị chỉ lấy tiền phòng thôi, tiền khác thì của các bạn đấy chị không biết”. N nhận chìa khóa phòng sau đó đi vào phòng 201, còn Q đi vào phòng 202. Sau khi nhận được điện thoại của N, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 615.75 chở H2 và H3 đến Nhà nghỉ H6. Trên đường đi H bảo với H2 và H3 là đi đến khách chọn ai thì người đó sẽ ở lại bán dâm cho khách, nếu không chọn ai thì báo lại cho H. Khi đến Nhà nghỉ H6, H bảo H2 và H3 tự đi vào, còn H đi ra ngoài đợi; H2 và H3 đi vào bên trong Nhà nghỉ gặp P, H2 nói “Cho em lên phòng 201, phòng 202”, P đồng ý và nói “Ừ”. H2 và H3 đến phòng 201 gặp N đang ở trong phòng; N chọn H2 để mua dâm nên bảo H2 ở lại phòng 201 và bảo H3 đi sang phòng 202 gặp Quyền nếu Q có nhu cầu mua dâm thì trao đổi với nhau. Tại phòng 201, H2 thoả thuận bán dâm cho N với giá 400.000 đồng/01 lượt; N đồng ý, trả tiền cho H2 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng trong đó có 400.000 đồng là tiền mua dâm, còn lại 100.000 đồng là tiền thừa N cho H2, H2 khi cầm tiền cất vào trong túi quần phía sau đang mặc. Sau đó, H2 và N tự cởi hết quần áo rồi cùng nằm lên giường quan hệ tình dục, trước khi quan hệ tình dục thì H2 dùng bao cao su (do N mang đi) đeo vào dương vật của N, sau khi quan hệ tình dục được khoảng 20 phút thì N xuất tinh vào bao cao su. Lò Thị H3 sang phòng 202 gặp anh Nguyễn Chí Q, do anh Q chỉ vào thuê phòng để nghỉ không có ý định mua dâm nên H3 và anh Q ngồi nói chuyện không có thỏa thuận việc mua bán dâm. Khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, Công an thị xã V tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lê Thị P đang có hành vi chứa mại dâm tại phòng 201 Nhà Nghỉ H6 và thu giữ vật chứng có liên quan. Cùng ngày 20/01/2025, Lưu Văn H đã đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận hành vi môi giới mại dâm.
Cùng ngày 01/5/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra giữ liệu điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, lắp sim số 0348.920.030 của Lưu Văn H, kiểm tra phần nhật ký cuộc gọi, phát hiện số thuê bao số 0329.403.922 của Ngô Văn N gọi đến số điện thoại 0348.920.xxx của H vào thời gian 14 giờ 57 phút và 15 giờ 10 phút ngày 20/01/2025.
Bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 13/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Lê Thị Phương về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự; Lưu Văn H về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Qua tranh tụng tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa mại dâm”, thời gian thử thách 2 năm 06 tháng đến 03 năm. Giao bị cáo cho UBND phường N, thị xã V giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 328, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lưu Văn H từ 10 tháng đến 12 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ trước đó 20/01/2025 đến ngày 23/01/2025.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
-
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công của bị cáo H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh (đã qua sử dụng) và 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh biển kiểm soát 98D1 - 615.75 là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Tịch thu sung công số tiền 500.000 đồng thu giữ của Lò Thị H2 tiền mua bán dâm mà có.
- Tịch thu sung công của Ngô Văn N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Noikia, màu đen, sử dụng vào việc liên lạc phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su bề mặt có chữ Trung Quốc, một mặt màu xanh có hình lá cây, mặt còn lại màu trắng bạc; 01(một) bao cao su màu trắng đục đã qua sử dụng, bên trong có chất dịch màu trắng đục; 03 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, một mặt màu xanh, mặt còn lại màu trắng bạc.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Thị P và Lưu Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo P, H xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ và được lưu trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/01/2025, tại Nhà nghỉ H6 do Lê Thị P- sinh năm 1984 ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm quản lý. Lưu Văn H đã thỏa thuận với Lê Thị P cho Hoàng dán số điện thoại của H tại Nhà nghỉ H6 để khách thuê nhà nghỉ mà có nhu cầu gọi gái bán dâm thì P sẽ bảo khách gọi trực tiếp vào số điện thoại trên cho H, H sẽ điều gái bán dâm đến bán dâm cho khách và được P đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày 20/01/2025, P đang ở quầy lễ tân của Nhà nghỉ thì có Ngô Văn N- sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang đến hỏi thuê phòng 201 nghỉ và có nhu cầu mua dâm thì P đã nói, chỉ cho N gọi vào số điện thoại 0348.920.xxx (dán trên tường nhà nghỉ) của H. Sau đó, N đã sử dụng điện thoại số 0329.403.xxx của N gọi vào số điện thoại 0348.920.xxx của H hỏi mua dâm; H đồng ý và điều khiển xe mô tô chở Lò Thị H2- sinh năm 2006, trú tại bản Huổi Lóng, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên đến Nhà nghỉ H6 để H2 bán dâm cho N, N đã trả cho H2 số tiền 500.000 đồng (trong đó có 400.000 đồng tiền mua dâm và 100.000 đồng N cho H2). Khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, Công an thị xã V tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lê Thị P đang có hành vi chứa mại dâm tại phòng 201 và thu giữ vật chứng liên quan; cùng ngày, Lưu Văn H đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận hành vi môi giới mại dâm.
Vì vậy, Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 13/52025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Lê Thị P về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự; Lưu Văn H về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo P là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- - Bị cáo H có nhân thân xấu, tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 120/QĐ-XPHC ngày 18/7/2024 của Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh bạc mua số lô, số đề; đã nộp tiền phạt ngày 23/7/2024
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo P, H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo H còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội ra đầu thú; bị cáo P được Ban chấp H4 công đoàn các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong phòng trào thi đua lao động giỏi lao động sáng tạo năm 2013, ngoài ra bị cáo tích cực đóng góp xây dựng quỹ “Vì người nghèo” địa phương năm 2024 được UBND phường Nếnh ghi nhận nên bị cáo P được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đầu thú” quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách phòng chống tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là tác nhân gây ra nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần có hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, bị cáo P là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; quá trình sinh sống, học tập, lao động tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nội quy, quy chế của địa phương; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật. Đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với chính sách khoan hồng của Nhà nước được quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTPngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên cần chấp nhận.
Đối với bị cáo H có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính, chưa được xóa, không đủ điều kiện được hưởng án treo do đó có thể thấy rằng bị cáo không chịu tu dưỡng nên cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian cần thiết mới đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích thu lợi bất chính nên HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 327 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo P và khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX thấy:
Về vật chứng: Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng của Lò Thị H2 là tài sản của chị H2 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho Lò Thị H2.
Đối với 01 vỏ bao cao su bề mặt có chữ Trung Quốc, một mặt màu xanh có hình lá cây, mặt còn lại màu trắng bạc; 01 bao cao su màu trắng đục đã qua sử dụng, bên trong có chất dịch màu trắng đục; 03 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, một mặt màu xanh, mặt còn lại màu trắng bạc là vật các đối tượng sử dụng để mua bán dâm, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy
Đối với: 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng là tiền sử dụng để mua bán dâm; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen (đã qua sử dụng) của Ngô Văn N dùng để liên lạc mua dâm; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promx màu xanh, số I: 35389410359582 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B1- 615.75 đăng ký mang tên Nguyễn Văn H5- sinh năm 1998, trú tại thôn S, xã L, huyện H, xác định anh H5 đã bán chiếc xe trên cho H là tài sản của bị can H sử dụng làm phương tiện để liên lạc, chở gái đi bán dâm nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Lê Thị P và Lưu Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác:
Đối với Ngô Văn N, Lò Thị H2 đã có hành vi mua, bán dâm ngày 20/01/2025 tại Nhà nghỉ H6 đã vi phạm hành quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội. Ngày 27/01/2025 và ngày 05/02/2025, Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với Ngô Văn N, xử phạt vi phạm hành chính 400.000 đồng đối với Lò Thị H2.
Đối với anh Bùi Văn K- sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là chủ hộ đứng tên Đăng ký kinh doanh Nhà nghỉ H6 (là chồng của Lê Thị P); quá trình điều tra xác định, anh K thường xuyên đi làm tại các công trình xây dựng, không có ở nhà, không biết việc P đã thực hiện hành vi chứa mại dâm ngày 20/01/2025 tại Nhà nghỉ nên K không đồng phạm với bị can P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị P 01 (một) năm 06 tháng tù về tội “Chứa mại dâm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị P cho UBND phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo 12.000 000đ (mười hai triệu đồng).
Căn cứ: Khoản 1, khoản 4 Điều 328 Bộ luật Hình sự; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Văn H 10 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/01/2025.
Phạt bổ sung bị cáo H 10.000.000 sung ngân sách nhà nước
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su bề mặt có chữ Trung Quốc, một mặt màu xanh có hình lá cây, mặt còn lại màu trắng bạc; 01 bao cao su màu trắng đục đã qua sử dụng, bên trong có chất dịch màu trắng đục; 03 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng, một mặt màu xanh, mặt còn lại màu trắng bạc.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen (đã qua sử dụng); 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promx màu xanh, số I: 35389410359582 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B1- 615.75. Số khung RLCYG0610HY420749; số máy: G3D4E440651.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Mỗi bị cáo Lê Thị P; Lưu Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Luyện |
Bản án số 109/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm
- Số bản án: 109/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị P về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự; Lưu Văn H về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự
