TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2025/DS-PT
Ngày 30 - 5-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Hoàng Anh
Ông Đào Trọng Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Trứ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vẹn- Kiểm sát viên
Trong các ngày 27 và 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 72/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 121/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 123/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Minh L, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Quang M, sinh năm 1989 (có mặt);
Địa chỉ: Số D ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Mộng T, sinh năm 1974 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ D, thôn X, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1977 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp X, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1979 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn X, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
-Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đỗ Minh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Đỗ Minh L trình bày:
Ngày 19/3/2022, ông Đỗ Minh L và ông Trần Mộng T thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể: Ông T đồng ý chuyển nhượng cho ông L diện tích đất 2.000m² thuộc một phần thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 3.300.000.000đ. Ông L đã đặt cọc cho ông T số tiền 500.000.000đ tại thời điểm ký hợp đồng. Việc ký hợp đồng đặt cọc cũng như các vấn đề liên quan là giao dịch giữa ông L và ông T, không liên quan đến cá nhân nào khác. Theo thỏa thuận đến ngày 19/5/2022 (tức 60 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng đặt cọc) thì các bên sẽ tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nếu quá thời hạn nêu trên mà ông T không bán, chuyển nhượng cho ông L với bất cứ lý do gì thì phải trả lại tiền cọc và đền bù gấp hai lần tiền cọc.
Quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc, ông T nhiều lần xin khất. Cụ thể đến ngày 19/5/2022, ông T xin gia hạn thêm 30 ngày nữa, nghĩa là ngày 19/6/2022 là thời hạn cuối cùng để làm thủ tục chuyển nhượng (theo biên bản làm việc giữa các bên). Tuy nhiên ông T lại tiếp tục xin cho thời hạn đến ngày 24/6/2022 và tiếp sau đó là xin gia hạn đến ngày 01/7/2022.
Sau nhiều lần xin gia hạn nhưng không ấn định được thời hạn chính xác cũng như không biết đến khi nào ông T mới hoàn thiện thủ tục để đủ điều kiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng nên ông L đã thông báo hủy hợp đồng đặt cọc nêu trên và đề nghị ông T phải trả lại tiền cọc và chịu phạt cọc theo thỏa thuận.
Tính đến ngày ông L khởi kiện, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên vẫn chưa thực hiện được, mặc dù ông L đã nhiều lần yêu cầu ông T thực hiện sớm thủ tục chuyển nhượng.
Như vậy, ông T đã vi phạm sự thỏa thuận giữa các bên. Ông T giữ số tiền lớn của ông L trong thời gian dài, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, nên ông L yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa ông L và ông T ngày 19/3/2022; Buộc ông T phải trả lại cho ông L tổng số tiền là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) (trong đó 500.000.000đ tiền đặt cọc và 1.000.000.000đ tiền phạt cọc).
[2] Bị đơn ông Trần Mộng T, trình bày:
Ngày 19/3/2022, ông Đỗ Minh L và ông Trần Mộng T thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể: Ông T đồng ý chuyển nhượng cho ông L diện tích đất 2.000m² thuộc một phần thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 3.300.000.000đ. Ông L đã đặt cọc cho ông T số tiền 500.000.000đ tại thời điểm ký hợp đồng. Việc ký hợp đồng đặt cọc cũng như các vấn đề liên quan là giao dịch giữa ông L và ông T, không liên quan đến cá nhân nào khác. Theo thỏa thuận đến ngày 19/5/2022 (tức 60 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng đặt cọc) thì các bên sẽ tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nếu quá thời hạn nêu trên mà ông T không bán, chuyển nhượng cho ông L thì phải bồi thường cho ông L hai lần số tiền mà ông L đã đặt cọc, ngược lại ông L không mua thì phải chịu mất số tiền đã đặt cọc.
Quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc, ông T đã nộp ngay hồ sơ vào các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đủ điều kiện chuyển nhượng đối với phần diện tích đất nêu trên. Các cơ quan này có hẹn trả kết quả theo các phiếu hẹn nhưng đều không thực hiện đúng thời gian. Do vậy ông T nhiều lần xin ông L cho gia hạn, cụ thể ngày 19/5/2022 xin thêm 30 ngày (nghĩa là đến ngày 19/6/2022) sẽ làm thủ tục chuyển nhượng. Sau đó tiếp tục xin cho thời hạn đến ngày 24/6/2022, rồi đến ngày 01/7/2022. Mãi đến ngày 05/7/2022 thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới trả kết quả ra sổ cấp đổi đối với thửa đất là đối tượng chuyển nhượng nêu trên.
Nay trước yêu cầu của ông L thì ông T đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa ông L và ông T ngày 19/3/2022; ông T đồng ý trả lại số tiền cọc 500.000.000₫ và hỗ trợ cho ông L với số tiền 50.000.000đ; không đồng ý với yêu cầu phạt cọc vì ông T đã rất thiện chí thực hiện hợp đồng nhưng việc chậm trễ dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng không ký kết đúng thời hạn được là do lỗi khách quan từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã không trả kết quả như đúng hẹn.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông T trình bày, ông chỉ đồng ý hỗ trợ cho ông L số tiền 50.000.000đ trong trường hợp vụ án được hòa giải thành; nếu ông L vẫn tiếp tục yêu cầu phạt cọc thì ông không đồng ý hỗ trợ nữa.
[3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L1, trình bày:
Bà Phạm Thị L1 là vợ của ông Trần Mộng T. Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là tài sản chung của ông bà. Năm 2022 do cần tiền nên bà L1 và ông T có thống nhất giao cho ông T tìm người chuyển nhượng một phần diện tích đất thuộc thửa đất nêu trên. Tuy nhiên việc ông L và ông T ký kết hợp đồng đặt cọc, nhận tiền cọc thì bà L1 không biết, không ký, không tham gia thỏa thuận. Số tiền cọc mà ông T nhận từ ông L thì ông T đã chi tiêu vào công việc cá nhân, ông T không nói với bà L1 và không đưa cho bà L1 bất kỳ số tiền nhận cọc nào. Từ trước tới nay bà L1 vẫn đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, nếu người nhận chuyển nhượng có thiện chí và giao đủ số tiền chuyển nhượng theo thỏa thuận với ông T. Bà không liên quan trong vụ án này, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Toà án xét xử theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Minh L đối với ông Trần Mộng T về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
- Hủy hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 19 tháng 3 năm 2022 giữa ông Đỗ Minh L và ông Trần Mộng T.
- Buộc ông Trần Mộng T có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Minh L số tiền 500.000.000₫ (Năm trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Minh L về việc buộc ông Trần Mộng T phải trả cho ông L số tiền phạt cọc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08-10-2024, nguyên đơn ông Đỗ Minh L kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phạt cọc của nguyên đơn đối với bị đơn.
Tại cấp phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Minh L nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt bà L1.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Xét tính hợp pháp của hợp đồng đặt cọc ngày 19-3-2022
Các đương sự đều thừa nhận hợp đồng đặt cọc ký ngày 19-3-2022 giữa nguyên đơn và bị đơn (BL 04-TA) là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy hợp đồng đặt cọc ngày 19-3-2022 giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.
[2.2] Về thời hạn của hợp đồng đặt cọc:
[2.2.1] Theo nội dung của hợp đồng đặt cọc ký ngày 19-3-2022 thì hai bên thỏa thuận thời hạn đặt cọc là 60 ngày, kể từ ngày 19-3-2022 đến ngày 19-5-2022. Ông T nhận đủ tiền cọc sẽ cùng với ông Lương làm thủ tục công chứng chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi thủ tục công chứng hoàn tất, ông L phải giao đủ số tiền còn lại cho ông T.
Tuy nhiên tại Điều 4 của hợp đồng nêu trên hai bên có thỏa thuận thêm “...Sau 60 ngày chưa ra khu đo thì hai bên thỏa thuận với nhau về thời gian...bên A (ông T) chịu trách nhiệm ra khu đo cho bên B (ông L)”.
Như vậy mặc dù ban đầu hai bên thỏa thuận về thời hạn đặt cọc là 60 ngày nhưng đây chưa phải là thời hạn cuối cùng để các bên phải ký hợp đồng chuyển nhượng vì các bên đã thỏa thuận thêm sau 60 ngày chưa ra khu đo thì hai bên thỏa thuận với nhau về thời gian. Nghĩa là khi hết 60 ngày trên mà bên ông T vẫn chưa ra khu đo được thì hợp đồng đặt cọc không đương nhiên bị chấm dứt mà hai bên phải bàn nhau lại ngày công chứng. Do vậy ngày 19-5-2022 chưa phải là ngày cuối cùng của thời hạn đặt cọc.
[2.2.2] Qúa trình tố tụng và tại phiên tòa phúc thẩm cả ông L và ông T cùng thống nhất rằng: Hết thời hạn 60 ngày nhưng do ông T vẫn chưa thực hiện được việc ra khu đo nên các bên đã cùng nhau lập biên bản làm việc ngày 19-5-2022 (BL 03-TA), theo đó ông L cho thêm thời hạn 30 ngày. Tiếp đến ông T lại xin gia hạn đến ngày 24-6-2022 và tiếp là ngày 01-7-2022 và được ông L thống nhất đồng ý. Như vậy thời hạn thỏa thuận của các bên để thực hiện công chứng chuyển nhượng là ngày 01-7-2022.
[2.3] Xét lỗi làm cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được ký kết:
Theo ông L cho rằng hết ngày 01-7-2022 ông T vẫn không thực hiện được thủ tục ra khu đo là đã vi phạm thỏa thuận giữa các bên, nên cần hủy hợp đồng đặt cọc, ông T phải trả lại số tiền đặt cọc 500.000.000đ và phạt cọc 1.000.000.000₫.
[2.3.1] Đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc và trả lại số tiền cọc 500.000.000đ thì các đương sự đồng ý với bản án sơ thẩm về việc tuyên hủy hợp đồng đặt cọc, buộc ông T có nghĩa vụ trả lại cho ông L số tiền đặt cọc 500.000.000đ, không ai kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết trong phạm vi kháng cáo của ông L nêu trên.
[2.3.2] Đối với yêu cầu buộc ông T chịu phạt cọc với số tiền 1.000.000.000₫ thì thấy:
Tại công văn trả lời số 1233/CNVPĐK-TTLT ngày 23-10-2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BL 45-TA) thì thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9 thuộc trường hợp phải làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đủ điều kiện để chuyển nhượng.
Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc thì ngày 24-3-2022 ông T đã nộp hồ sơ “Cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu đo” tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C. Theo nội dung Giấy biên nhận hồ sơ ngày 24-3-2022 thì Ủy ban nhân dân xã S hẹn trả kết quả vào ngày 17-5-2022 (BL 95-TA), tuy nhiên đến ngày 26-5-2022 mới hoàn tất thủ tục tại cấp xã.
Tiếp tục ngay sau đó thì vào ngày 27-5-2022, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã nhận hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, với thời gian hẹn trả kết quả giải quyết là ngày 22-6-2022 (BL 85-TA).
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T trình bày ông đã chủ động báo lại cho ông L các bước thực hiện thủ tục xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời gian trả kết quả giải quyết hồ sơ là ngày 22-6-2022 nhưng khi ông T đến nhận kết quả thì chỉ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lời không bằng văn bản là chưa có kết quả mà không nói có kết quả cụ thể là ngày nào. Ông T xin ông L cho gia hạn đến ngày 24-6-2022 và tiếp đến xin gia hạn đến ngày 01-7-2022 và được ông L đồng ý. Lời trình bày này của ông T được ông L thừa nhận.
Căn cứ vào lời trình bày của ông T cũng như chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì ngày 05-7-2022 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khu đo mới cho ông T. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khu đo mới đến tại phiên tòa phúc thẩm, ông T vẫn đồng ý và có nguyện vọng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận, nếu ông L vẫn đồng ý mua.
Như vậy, thực hiện thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, ông T đã tích cực làm các thủ tục để được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khu đo mới, đủ điều kiện chuyển nhượng. Mỗi bước thực hiện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ông T đều thông báo lại cho ông L và chủ động xin gia hạn thời gian. Việc ông T không thực hiện đúng thời hạn theo hợp đồng đặt cọc và theo thỏa thuận của các bên là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chậm trễ. Đây là lý do khách quan, cả ông T và ông L đều không mong muốn. Vì vậy, ông L yêu cầu phạt cọc đối với ông T số tiền 1.000.000.000₫ là không có căn cứ. Án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông L là có cơ sở.
Từ phân tích, nhận định trên, cần không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Minh L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lương phải chịu án phí có giá ngạch trên yêu cầu phạt cọc không được Tòa án chấp nhận.
Ông T phải chịu án phí sơ thẩm trên yêu cầu khởi kiện của ông L được Tòa án chấp nhận.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông L không được chấp nhận nên ông L phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Minh L; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 26-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:
Căn cứ vào Điều 26, 147, 148, 227, 228, 293, 296 và 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 328 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Minh L đối với ông Trần Mộng T về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
- Hủy hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 19 tháng 3 năm 2022 giữa ông Đỗ Minh L và ông Trần Mộng T.
- Buộc ông Trần Mộng T có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Minh L số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Minh L về việc buộc ông Trần Mộng T phải trả cho ông L số tiền phạt cọc 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- -Ông Đỗ Minh L phải nộp 42.000.000 (Bốn mươi hai triệu) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 28.500.000 (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng mà ông L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008326 ngày 31-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nên ông L còn phải nộp tiếp 13.500.000 (mười ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
- -Ông Trần Mộng T phải nộp 24.300.000 (Hai mươi bốn triệu ba trăm nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Minh L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001440 ngày 21-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nên ông L đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 30-5-2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thương |
Bản án số 109/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 109/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
