TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2025/HS-ST. Ngày: 03-4-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến.
Ông Lâm Ngọc Trao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hùng Chinh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 108/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Bùi Văn T; sinh năm 1981 tại Cần Thơ; Nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã V, huyện V, TP Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C (đã chết) và bà Đoàn Thị T1 (đã chết); bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, có vợ tên Dương Hải Y và có 01 con sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt từ ngày 01/11/2024 và đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 11/07/2015, Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 1990) điều khiển xe mô tô biển số: 85C1-186.71 đến cổng Công ty C1 thuộc khu công nghiệp N để rước anh Nguyễn Văn Đ (1989) tan ca đi làm về. Khi cả hai đi đến chốt “Cổng vàng” thuộc khu công nghiệp N thì Bùi Văn T là nhân viên bảo vệ dịch vụ Đ2, điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chạy từ phía sau, vượt lên chặn đầu xe của Đ1 và Đ yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Sau đó, T bước xuống xe nói Đin chạy xe lạng lách, nẹt pô nên xảy ra mâu thuẫn, T dùng tay đánh trúng mặt của Đ 02 cái, Đ dùng nón bảo hiểm đánh lại thì T lấy côn nhị khúc bằng kim loại đánh lại Đính. Cùng lúc, Đặng Đào Quang P (sinh năm 1992, ngụ tại ấp X, xã P, huyện N) điều khiển xe mô tô biển số 64M1-4501 chạy đến, P thấy T đang đánh nhau với Đ nên dừng xe cùng T đánh Đ. P lấy cây gậy bằng cau su dài khoảng 30cm trên xe của T đánh nhiều cái vào người của Đ, anh Đ1 thấy vậy lao vào can ngăn cũng bị T và P đánh nhiều cái vào người gây thương tích thì được mọi người can ngăn. Nhận được tin báo Công an Đồn khu công nghiệp Nhơn Trạch lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra thụ lý theo thẩm quyền. Ngày 29/10/2015, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Bùi Văn T và Đặng Đào Quang P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do T và P bỏ trốn nên sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 02, 03/QĐ-CSĐT-TH ngày 29/12/2015 và Quyết định truy nã số 02, 03/QĐ-CSĐT-TH ngày 12/01/2016. Đến ngày 01/11/2024, Bùi Văn T bị bắt truy nã khi đang trốn tại xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0553/GĐPY/2015 ngày 01/9/2015 của Trung tâm P1 kết luận về thương tích của anh Nguyễn Văn Đ như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Tổn thương gãy đầu dưới xương trụ trái can xấu, có mảnh rời, hạn chế cử động nhẹ cổ tay trái. Tỷ lệ 21%.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 21% (hai mươi mốt phần trăm).
- Vật gây thương tích: Vật tày.
Tại Cáo trạng số 111/CT-VKSNT ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Căn cứ Nghị quyết 41/QH14 ngày 21/6/2017 thì hành vi của T đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về biện pháp tư pháp: Do vật chứng không thu hồi được nên không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Tại phiên Tòa bị cáo không phát biểu tranh luận, bị cáo nói lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải, xin lỗi bị hại và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như phần nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Thể hiện, vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 11/7/2015, tại C, thuộc Khu công nghiệp C, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Bùi Văn T dùng hung khí là côn nhị khúc bằng kim loại và Đặng Đào Quang P dùng gậy bằng cao su đánh vào tay của bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền được bảo hộ về sức khoẻ của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là sai trái, nguy hiểm cho xã hội. Song vì coi thường pháp luật, không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác. Lỗi của bị cáo trong vụ án là lỗi cố ý trực tiếp, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên sự am hiểu pháp luật và nhận thức xã hội còn hạn chế, bị cáo là người khuyết tật nhẹ ở chân, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về biện pháp tư pháp: Do vật chứng không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với anh Nguyễn Văn Đ1 bị Bùi Văn T và Đặng Đào Quang P gây thương tích, anh Đ1 không yêu cầu giám định và không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
Đối với Đặng Đào Quang P, Cơ quan điều tra tiếp tục truy nã và xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 11 năm 2024.
2. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lâm Ngọc Trao Lê Thị Kim Xuyến | Đặng Thị Ngọc Tình |
Bản án số 109/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 109/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Trung cố ý gây thương tích
