Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2025/HS-ST

Ngày 24 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Khá

Bà Vì Thị Xôm

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2025/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1987, tại: tỉnh Điện Biên; Nơi ĐK thường trú và nơi ở trước ngày bị bắt: Bản Phượn, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn P và bà Quàng Thị P1; có vợ là Lò Thị V và 02 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2024 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
  2. Họ và tên: Lò Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 2001, tại: tỉnh Điện Biên; Nơi ĐK thường trú và nơi ở trước ngày bị bắt: Bản Pa P2, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn C (đã chết) và bà Lò Thị T1 (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: 01 (ngày 07/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng, ngày 08/5/2023 chấp hành xong); nhân thân: Chưa bị kết án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2024 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 21/12/2024, Lò Văn T đi bộ từ nhà đến nhà Lò Văn C (anh trai T) mượn xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 532.03 của anh C để đi chợ. Khi T điều khiển xe đi đến khu vực đường thuộc bản P, xã T, huyện Đ thì gặp Lò Văn H. T hỏi H “Có chỗ nào mua Heroine không, tao có 150.000 đồng, tao với mày cùng nhau đi mua Heroine về cùng nhau sử dụng”. H bảo có, rồi ngồi phía sau xe mô tô và bảo T chở đến bờ sông T, xã T, huyện Đ. Đến nơi, T đưa cho H 150.000 đồng và chờ ở đó, còn H cầm tiền đi bộ đến khu vực đường thuộc bản X, xã T, huyện Đ. Tại đây, H gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc T2 khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 150.000 đồng. Mua xong, H cầm gói H1 quay lại chỗ T bảo “Mua được H1 rồi” và đưa cho T gói Heroine. T dùng tay cấu một ít Heroine, rồi nhặt mảnh giấy bạc dưới đường và dùng bật lửa ga của H cùng H sử dụng hết bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, Thanh gói lại như cũ và dùng bật lửa ga của H hàn kín miệng rồi cho vào khe vỏ bao thuốc lá Blue SEAL của T, cất vào túi áo khoác bên phải T đang mặc, còn H cất bật lửa vào túi quần bên trái Hoả đang mặc, sau đó T điều khiển xe chở H về. Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi T chở H về đến đường thuộc thôn Y, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện Đ yêu cầu dừng xe lại. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện, thu giữ tại túi áo khoác bên phải T đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá Blue SEAL màu trắng xanh, tại khe của vỏ bao thuốc lá có 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroine). Tổ công tác mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 bật lửa ga màu vàng, nhãn hiệu Thống Nhất tại túi quần bên trái Hoả đang mặc và tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 532.03, kèm chìa khoá xe.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 21/12/2024 tại Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã xác định: Gói chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T có khối lượng là 0,17 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số: 1885/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. H2 lại mẫu vật gửi giám định là 0,11 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 30/CT-VKSHĐB ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn H và bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn C trình bày: Ông là anh trai của bị cáo, ngày 21/12/2024 bị cáo mượn của ông chiếc xe mô tô BKS: 27B1 - 532.03 nói là để đi chợ, ông không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy. Ông đã nhận lại xe mô tô và không có ý kiến, yêu cầu gì.

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn C chiếc xe mô tô BKS: 27B1 - 532.03, kèm chìa khoá xe theo Quyết định xử lý vật chứng số 11/QĐ-ĐCSMT và Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 02/01/2025.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn T và Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù; xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng, 01 bật lửa ga màu vàng nhãn hiệu thống nhất và 01 vỏ bao thuốc lá Blue SEAL màu trắng xanh. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T, bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 21/12/2024, tại khu vực thôn Y, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn T bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép 0,17 gam Heroine. Nguồn gốc số H3 bị thu giữ là do Lò Văn T đưa tiền cho Lò Văn H trực tiếp đi mua, mục đích để cùng nhau sử dụng. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm đối với 0,17 gam Heroine bị thu giữ. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ,... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà các bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Các bị cáo Lò Văn T và Lò Văn H cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tính tổ chức. Bị cáo Lò Văn T là người khởi xướng và đưa tiền mua và cất giấu ma túy còn bị cáo Lò Văn H là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi mua ma túy nên bị cáo Thanh giữ vai trò chính, bị cáo H giữ vai trò sau bị cáo T.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Nhân thân: Bị cáo Lò Văn T chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo Lò Văn H chưa bị kết án, đã bị xử lý vi phạm hành chính: Ngày 07/10/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng, ngày 08/5/2023 chấp hành xong, tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt đối với các bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Thanh giữ vai trò chính, bị cáo H giữ vai trò sau bị cáo T nhưng tính đến ngày phạm tội bị cáo H chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nên cần áp dụng mức hình phạt như nhau đối với các bị cáo. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Lò Văn T là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận; còn mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo Lò Văn H là cao nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng các bị cáo làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: 0,11 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định) thu giữ của bị cáo Lò Văn T là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 bật lửa ga màu vàng nhãn hiệu thống nhất và 01 vỏ bao thuốc lá Blue SEAL không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Việc trả lại tài sản của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ: Chiếc xe mô tô BKS: 27B1 - 532.03 là của anh Lò Văn C, khi mượn xe bị cáo Lò Văn T nói là mượn xe đi chợ, anh C không biết việc bị cáo T sử dụng xe để đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe mô tô trên cùng chìa khoá cho anh C tại Quyết định xử lý vật chứng số 11/QĐ-ĐCSHS ngày 02/01/2025 là đúng qui định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 47 bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận việc trả vật chứng này.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho bị cáo Lò Văn H do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lò Văn C, quá trình điều tra đã xác định C không biết việc bị cáo T mượn xe mô tô của mình đi mua ma tuý nên không đề cập vấn đề xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng ma tuý của các bị cáo vào ngày 21/12/2024, ngày 11/02/2025 Công an huyện Đ đã ban hành các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC đối với Lò Văn T và số 12/QĐ-XPHC đối với Lò Văn H, hình thức phạt Cảnh cáo, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng bị cáo T là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên toà có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo T được miễn án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp, HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn T và Lò Văn H đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 21/12/2024).

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 21/12/2024).

3. Xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu vàng nhãn hiệu Thống Nhất và 01 vỏ bao thuốc lá Blue SEAL màu trắng xanh. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận việc xử lý vật chứng tại Quyết định xử lý vật chứng số 11/QĐ-ĐCSMT ngày 02/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T, bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - Công an tỉnh Điện Biên (PC04, PV06);
  • - Phân trại tạm giam khu vực
  • TP. Điện Biên Phủ;
  • - Chi cục THADS huyện Điện Biên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Hs, hs THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 109/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Th - Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger