|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 109/2025/DS-PT Ngày 13 – 3 – 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Điện – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 208/2024/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 69/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Số E, đường L, khóm D, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Ông Trần Văn L, sinh năm 1982 (Có mặt).
- Bà Thạch Thị Tú L1, sinh năm 1985 (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn N1, sinh năm 1959 (Vắng mặt).
- Ông Trần Văn M, sinh năm 1968 (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị N là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Vào năm 2009, bà N có nhận chuyển nhượng của ông Trần Ngọc M1 phần đất chiều ngang 4m, chiều dài: một cạnh dài 36m và một cạnh dài 38m; đất tọa lạc tại ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Phần đất nhận chuyển nhượng do ông Trần Ngọc M1 đứng tên quyền sử dụng đất, nhưng tất cả giao dịch thực hiện với con ông M1 là ông Trần Văn N1. Khi chuyển nhượng có làm giấy tay, có xác nhận chính quyền địa phương, giá chuyển nhượng do lâu quá nên không nhớ. Khi nhận chuyển nhượng có sơ đồ đo đạc, có cặm ranh và bà N đã nhận đất. Đến năm 2017, bà N được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 236098, diện tích 146,7m². Đến năm 2022, bà N đo đạc lại phần đất thì phát hiện diện tích đất của bà N bị thiếu so với quyền sử dụng đất được cấp, chiều ngang mặt tiền bị thiếu khoảng 0,33m, mặt hậu khoảng 0,40m và chiều dài 38m. Nguyên nhân diện tích đất của bà N bị thiếu là do vợ chồng ông Trần Văn L và bà Thạch Thị Tú L1 cất nhà lấn sang đất bà N, nên đất bà N bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu buộc ông Trần Văn L và bà Thạch Thị Tú L1 phải tháo dỡ nhà để trả lại phần đất lấn chiếm diện tích theo đo đạc thực tế là 20,3m².
- Theo bị đơn ông Trần Văn L trình bày:
Ông L có nhận chuyển nhượng của ông Trần Ngọc M1 phần đất kích thước: chiều ngang 04m, chiều dài 50m, đất tọa lạc ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau vào ngày 10/9/2009 với giá 30.000.000 đồng, có làm giấy tay, có xác nhận của chính quyền địa phương. Đến tháng 08/2020, vợ chồng ông L cất nhà trên phần đất đã chuyển nhượng với kích thước ngang 3,9m, dài 20m, phần còn lại là sân, vườn.
Giữa phần đất của ông L và bà N có trụ đá làm ranh từ trước tới nay và hiện nay trụ đá vẫn còn. Ông L xác định không có lấn chiếm đất của bà N, nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà N.
- Theo bị đơn bà Thạch Thị Tú L1 trình bày: Bà L1 thống nhất với lời trình bày của ông L, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N.
- Theo ông Trần Văn N1 trình bày: Vào năm 2009, cha ông là ông Trần Ngọc M1 có chuyển nhượng đất cho bà Trần Thị N và vợ chồng ông Trần Văn L, bà Thạch Thị Tú L1 mỗi người nhận chuyển nhượng chiều ngang 04m, chiều dài 50m. Hiện nay ông M1 đã chết, ông cũng không biết lý do vì sao đất của bà N bị thiếu, ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Theo ông Trần Văn M trình bày:
Ông là con ruột của ông Trần Ngọc M1, ông M1 có tất cả 07 người con gồm Trần Quanh V (80 tuổi), bà Trần Thị H (71 tuổi), ông Trần Văn B (67 tuổi), bà Trần Thị H1 (65 tuổi), Trần Văn C (63 tuổi), ông Trần Văn N1 và ông. Lúc ông M1 còn sống có cho ông Trần Văn N1 một phần đất khoảng 01 công tầm lớn, chiều ngang mặt tiền 36m. Khi cho đất chỉ bằng lời nói không có làm hợp đồng, chưa chuyển tên quyền sử dụng đất cho ông N1. Sau khi được cho đất, ông N1 có chuyển nhượng cho bà N, bà B1, ông D, ông L và những người khác. Thời điểm ông N1 chuyển nhượng đất ông M1 đã trên 80 tuổi, ông M1 không còn minh mẫn nữa nên việc chuyển nhượng đất đai là do ông N1 đứng ra thực hiện và làm bằng giấy tay. Đến năm 2017, bà N mời địa chính xuống đo đạc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông mới biết ông N1 chuyển nhượng đất chiều ngang mặt tiền cho ông D 03m, bà B1 04m, bà N 04m, ông có ký tên hộ giáp ranh lúc đo đạc đất. Đến năm 2020, ông L cất nhà thì vị trí cất nhà của ông L là do ông N2 chỉ vị trí cho ông L cất, việc ranh giới đất giữa ông L và bà N có trụ đá hay không ông cũng không nắm rõ. Đối với việc tranh chấp đất giữa bà N và ông L hiện nay chỉ có liên quan đến ông N1 vì ông N1 là người trực tiếp đứng ra chuyển nhượng đất cho bà N và ông L. Các anh em còn lại không ai biết và không rõ việc tranh chấp đất đai giữa ông L, bà N. Ông đề nghị Toà án xem xét, giải quyết vắng mặt ông cho đến khi vụ án kết thúc.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 208/2024/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau quyết định:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N đối với ông Trần Văn L và bà Thạch Thị Tú L1 về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn L và bà Thạch Thị Tú L1 tháo dỡ nhà trả lại phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 20,3m², tọa lạc tại ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí tứ cận như sau:
- Phía Bắc giáp đất bà Trần Thị N cạnh M3M8 dài 37,84 mét.
- Phía Nam giáp phần đất của ông Trần Văn L cạnh M4M7 dài 38,00 mét.
- Phía Đông giáp với lộ bê tông – rạch Nàng Âm cạnh M3M4 dài 0,59 mét.
- Phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Hoàng A cạnh M7M8 dài 0,50 mét.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 20/12/2024, bà Trần Thị N có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị N giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
- Bà N không có ý kiến tranh luận.
- Ông L, bà L1 không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Trần Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Theo đo đạc thực tế, phần đất tranh chấp bà Trần Thị N yêu cầu ông Trần Văn L và bà Thạch Thị Tú L1 trả cho bà N có diện tích là 20,3m², tọa lạc tại ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Ranh giới, kích thước: Phía Đông giáp với lộ bê tông – rạch Nàng Â, cạnh M3M4 dài 0,59m; Phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Hoàng A, cạnh M7M8 dài 0,50m; Phía Nam giáp phần đất của ông Trần Văn L, cạnh M4M7 dài 38,00m; Phía Bắc giáp đất bà Trần Thị N, cạnh M3M8 dài 37,84m.
[2] Xét nguồn gốc đất các bên sử dụng:
Phần đất bà L1 sử dụng do nhận chuyển nhượng của ông Trần Ngọc M1 vào ngày 05/6/2009; theo giấy sang nhượng (viết tay) thể hiện phần đất chuyển nhượng kích thước chiều ngang 04m, chiều dài 50m, diện tích 200m². Đến ngày 05/12/2017, bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 146,7m², thửa 80, tờ bản đồ số 17 (kích thước chiều ngang 04m; kích thước chiều dài cạnh 38m và cạnh 36,91m). Lý do diện tích được cấp quyền sử dụng giảm so với diện tích trong giấy sang nhượng (viết tay) là do trước đây chủ sử dụng đất tự xác định ranh chưa đúng với thực tế sử dụng.
Phần đất ông L và và L1 sử dụng do nhận chuyển nhượng của ông Trần Ngọc M1 ngày 10/9/2029; theo giấy sang nhượng (viết tay) thể hiện phần đất chuyển nhượng kích thước chiều ngang 04m, chiều dài 100m, diện tích 100m²; hiện nay ông L và bà L1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L và bà L1 xây cất nhà trên đất từ năm 2020.
[3] Theo Bản vẽ hiện trạng, phần đất ông L và bà L1 sử dụng phần mặt tiền không tranh chấp có kích thước chiều ngang là 3,45m, nếu cộng thêm phần kích thước tranh chấp 0,59m thì tổng kích thước chiều ngang là 4,04m; phần mặt hậu không tranh chấp có kích thước là 3,40m, nếu cộng thêm phần tranh chấp 0,5m thì tổng kích thước chiều ngang là 3,90m. Phần đất bà N sử dụng phần mặt tiền không tranh chấp có kích thước chiều ngang 3,49m (thiếu 0,51m); phần mặt hậu không tranh chấp có kích thước chiều ngang là 3,50m (thiếu 0,50m). Theo ranh giới ông L xác định giáp ranh với đất bà N thể hiện có cắm cột mốc trụ đá.
Tại biên bản phiên toà sơ thẩm ngày 09/12/2024 cũng như tại phiên toà phúc thẩm, bà N xác định: Giữa đất bà N và đất ông L có cặm ranh trụ đá, do chính quyền địa phương cặm khi bà N làm quyền sử dụng đất vào năm 2017, trụ đá hiện nay vẫn còn, ông L cất nhà năm 2020 không lấn qua khỏi ranh trụ đá. Đồng thời bà N cũng xác định căn cứ cho rằng ông L lấn đất là do đất của bà N đo lại bị thiếu so với quyền sử dụng được cấp; ngoài căn cứ này, bà N không có căn cứ nào khác để chứng minh cho việc ông L lấn đất như bà N đặt ra.
[4] Tuy nhiên, xét căn cứ bà N đặt ra cho rằng ông L lấn đất là chưa có cơ sở thuyết phục, bởi lẽ: Theo hồ sơ cấp quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thể hiện, khi lập hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho bà N năm 2017 là đo đạc chung cả 03 thửa đất của bà N và các anh chị em của bà N (thửa 76, 78, 80), tổng kích thước chiều ngang là 11m, cụ thể: Phần đất ông Trần Công D, thửa 76, kích thước chiều ngang là 03m; phần đất bà Trần Ngọc B1, thửa 78, kích thước chiều ngang là 04m; phần đất bà Trần Thị N, thửa 80, kích thước chiều ngang là 04m. Để có cơ sở xác định phần đất của bà N cần phải đo đạc tổng kích thước chiều ngang các thửa đất của bà N, bà B1, ông D để xác định tổng kích thước của 03 thửa đất có đủ 11m hay không, cũng như kích thước thực tế ông D và bà B1 đang quản lý sử dụng; từ đó, để có căn cứ xác định nguyên nhân phần đất bà N bị thiếu, nhưng bà N không đồng ý đo đạc đối với thửa đất ông D, bà B1 đang sử dụng, mà chỉ yêu cầu đo đạc thửa đất của bà N và cho rằng đất bị thiếu là do ông L và bà L1 lấn chiếm là chưa có cơ sở. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ.
[5] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: bà N phải chịu 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 208/2024/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N về việc buộc ông Trần Văn L và bà Thạch Thị Tú L1 tháo dỡ nhà trả lại phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 20,3m², tọa lạc tại ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp với lộ bê tông – rạch Nàng Âm cạnh M3M4 dài 0,59 mét.
- Phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Hoàng A cạnh M7M8 dài 0,50 mét.
- Phía Nam giáp phần đất của ông Trần Văn L cạnh M4M7 dài 38,00 mét.
- Phía Bắc giáp đất bà Trần Thị N cạnh M3M8 dài 37,84 mét.
(Có sơ đồ đo đạc kèm theo)
- Chi phí tố tụng: Bà N phải chịu 16.464.000 đồng, đã nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu 300.000 đồng. Ngày 07/6/2023, bà N đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009220 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được đối trừ chuyển thu án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng. Ngày 27/12/2024, ông Quách Trọng P đã dự nộp thay bà N 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019047 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lập |
Bản án số 109/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 109/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà N khởi kiện yêu cầu buộc ông Trần Văn L và bà Thạch Thị Tú L1 phải tháo dỡ nhà để trả lại phần đất lấn chiếm diện tích theo đo đạc thực tế là 20,3m2
