Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 109/2024/DS-ST

Ngày 09 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Minh Sơn.

Ông Lê Trường Hận.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Trần Minh Muội – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101A/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2024/QÐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hồng Quốc P, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số B, Khóm C, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông P: Ông Trần Minh T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)

- Đồng bị đơn:

1/. Ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

2/. Bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A, Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Nhựt S, sinh năm 2000; Địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 17/6/2024, trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồng Quốc P trình bày:

- Vào ngày 01/7/2017 ông có cho ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N vay số tiền là 365.000.000 đồng để cho ông H, bà N kinh doanh mua bán xe cũ, thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng (có bảng tính lãi kèm theo), do số tiền này là tiền của ông vay ngân hàng để cho ông H, bà N vay lại nên phải có trách nhiệm trả lãi theo quy định ngân hàng cho ông. Thời hạn cho vay theo thời hạn ông vay ngân hàng là 60 tháng, mỗi tháng phải đóng tiền lãi và gốc theo đúng kế hoạch trả nợ cho ngân hàng. Khi cho vay tiền thì ông H, bà N có đưa cho ông cầm tin 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 656883 (bản chính), tuy nhiên ông H, bà N vẫn không thực theo như thỏa thuận. Trong thời gian ông cho ông H, bà N vay tiền thì do ông và ông H cùng làm nghề kinh doanh mua bán xe cũ nên ông H có nhờ ông gởi thêm xe cũ tại cửa hàng của ông H để cho ông H bán (không nhớ bao nhiêu chiếc xe), tuy nhiên khi ông H bán được xe của ông thì ông H không đưa lại cho ông, sau đó các bên có xác định lại tổng số tiền bán xe cũ là 75.000.000 đồng.

Vào ngày 14/8/2017 ông và ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N có viết lại biên nhận mượn tiền với nội dung có nợ ông tổng số tiền là 440.000.000 đồng (trong đó: 365.000.000 đồng tiền đã mượn trước đó và 75.000.000 đồng tiền bán xe của ông). Với thỏa thuận là mỗi ngày sẽ trả góp cho ông 550.000 đồng. Sau khi thỏa thuận thì ông H, bà N cũng không thực hiện theo như lời cam kết trong biên bản. Tiếp đến thì do ông H, bà N không có khả năng trả tiền cho ông nên có đến gặp ông để hỏi mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 656883 (bản chính) để ông bà đi vay tiền ngân hàng để nhằm mục đích trả nợ cho ông, một lần nữa ông tin tưởng nên đã giao lại cho vợ chồng ông H, bà N mượn lại, tuy nhiên khi ông bà vay tiền được thì đã không trả nợ cho ông theo như lời hứa.

Vì vậy, nay ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Nguyễn Nhựt T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ N cùng có trách nhiệm trả tổng số tiền nợ vay cho ông là 776.600.000 đồng, (trong đó nợ gốc là 440.000.000 đồng, nợ lãi từ ngày 14/8/2017 đến ngày 14/6/2024 là 336.600.000 đồng, theo mức lãi suất 11,2%/năm) và kể cả tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án.

- Bị đơn ông Nguyễn Nhựt T1, bà Nguyễn Thị Mỹ N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Nhựt S vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông T1, bà N và anh S không đến tòa án tham gia tố tụng cũng như gửi văn bản ý kiến phản hồi nào về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ông Trần Minh T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Hồng Quốc P trình bày: Ông Hồng Quốc P yêu cầu ông Nguyễn Nhựt T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ N cùng có trách nhiệm trả tổng số tiền nợ vay cho ông P là 776.600.000 đồng, (trong đó nợ gốc là 440.000.000 đồng, nợ lãi từ ngày 14/8/2017 đến ngày 14/6/2024 là 336.600.000 đồng, theo mức lãi suất 11,2%/năm) là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc, không có mặt khi triệu tập tham gia phiên tòa là chưa chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Nhựt T1, bà Nguyễn Thị Mỹ N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Nhựt S không đến Tòa án làm việc, ông T1, bà N biết việc khởi kiện của nguyên đơn nhưng không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Quốc P, buộc ông Nguyễn Nhựt T1, bà Nguyễn Thị Mỹ N cùng có trách nhiệm trả ông Hồng Quốc P số tiền là 776.600.000 đồng, (trong đó nợ gốc là 440.000.000 đồng, nợ lãi từ ngày 14/8/2017 đến ngày 14/6/2024 là 336.600.000 đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Ông Hồng Quốc P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Nhựt T1, bà Nguyễn Thị Mỹ N trả nợ vay nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo biên bản xác minh ngày 29/7/2024 và ngày 30/7/2024 tại Trụ sở ban N1, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và Trụ sở ban N2, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xác định bà Nguyễn Thị Mỹ N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A, Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và ông Nguyễn Nhựt T1, anh Nguyễn Nhựt S có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống làm việc tại số A, Khóm B, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Quốc P: Ông P xác định vào ngày 01/4/2017 và ngày 14/8/2017 có cho ông Nguyễn Nhựt T1, bà Nguyễn Thị Mỹ N mượn tổng số tiền là 440.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 11,2%/năm, ông P yêu cầu ông T1, bà N cùng có trách nhiệm trả ông tổng số tiền là 776.600.000 đồng, (trong đó nợ gốc là 440.000.000 đồng, nợ lãi từ ngày 14/8/2017 đến ngày 14/6/2024 là 336.600.000 đồng. Đồng thời, trong các Biên nhận mượn tiền có người chứng kiến là ông Nguyễn Trang H1, bà Sơn Kim H2 đều xác định có thấy sự việc các bên giao dịch vay tiền với nhau.

Khi vay tiền thì ông T1, bà N đã viết biên nhận cho ông P và ông P đã giao nộp cho Tòa án. Từ khi vay tiền cho đến nay đã hết thời hạn trả tiền nhưng ông T1, bà N không trả được khoản nào cho ông P, mặc dù ông P đã nhiều lần yêu cầu ông T1, bà N trả nhưng Ngoan cố tình lẫn trốn không có thiện chí trả tiền.

[3.1] Xét hợp đồng vay: Ông Hồng Quốc P xác định vào ngày 01/4/2017 cho ông T1, bà N vay số tiền 365.000.000 đồng đến ngày 14/8/2017 các bên thống nhất ông T1, bà N có nợ thêm 75.000.000 đồng nên tổng số nợ là 440.000.000 đồng, khi vay ông T1, bà N đã viết biên nhận cho ông Phú G và ông P đã giao nộp cho Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đến khi xét xử nhưng đều vắng mặt và không rõ lý do, nên không có ý kiến của ông T1, bà N đối với yêu cầu khởi kiện của ông P. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, có căn cứ xác định giữa ông Hồng Quốc P và ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N là có phát sinh giao dịch hợp đồng vay tiền nên Hội đồng xét xử căn cứ các quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản để giải quyết vụ án.

Đối với tờ giấy vay tiền ngày 14/8/2017 mặc dù có ghi tên anh Nguyễn Nhựt S có mượn tiền của ông Hồng Quốc P nhưng ông P xác định khoản vay này là vợ chồng ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N vay nên ông P chỉ yêu cầu vợ chồng ông T1, bà N trả nợ, không yêu cầu anh S cùng có trách nhiệm trả nợ với ông T1, bà N. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, ông T1, bà N, anh S không có ý kiến gì nên có căn cứ xác định đây là khoản vay của ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N.

[3.2] Về tiền vốn: Ông Hồng Quốc P yêu cầu ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N trả số tiền nợ vốn vay là 440.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Giấy biên nhận ngày 01/4/2017 và Biên nhận mượn tiền ngày 14/8/2017, ký tên và ghi rõ họ tên bị đơn ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N ghi nhận có mượn số tiền 440.000.000 đồng và bị đơn không có ý kiến phản đối như đã phân tích tại mục [3.1]. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 của Bộ Luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông P, buộc ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N cùng có nghĩa vụ trả cho ông Hồng Quốc P số tiền vay vốn là 440.000.000 đồng.

[3.3] Về lãi suất: Ông Hồng Quốc P xác định khi vay có thỏa thuận lãi suất 11,2%/năm theo lãi suất ngân hàng (có bảng tính lãi kèm theo), do số tiền này là tiền của ông P vay ngân hàng để cho ông T1, bà N vay lại được thể hiện trong các tờ Biên nhận mượn tiền nên có căn cứ xác định đây là khoản vay có lãi. Ông P yêu cầu ông T1, bà N cùng có trách nhiệm trả tiền lãi tính từ ngày 14/8/2017 đến ngày khởi kiện là ngày 14/6/2024 theo mức lãi suất 11,2%/năm. (440.000.000 đồng x 11,2%/năm x 06 năm 10 tháng = 336.747.000 đồng).

Hội đồng xét xử, xét thấy trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông P chỉ yêu cầu ông T1, bà N cùng có trách nhiệm trả số tiền lãi là 336.600.000 đồng, đây là ý chí tự nguyện của ông P nên được ghi nhận căn cứ khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông P buộc ông T1, bà N cùng có trách nhiệm trả số tiền lãi cho ông P là 336.600.000 đồng.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồng Quốc P được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Do ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N cùng có trách nhiệm trả cho ông Hồng Quốc P số tiền 776.600.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 35.064.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[5] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng vào Điều 5; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng vào Điều 357, Điều 429, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Quốc P đối với ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N.

2/. Buộc ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N cùng có trách nhiệm trả cho ông Hồng Quốc P tổng số tiền nợ vay là 776.600.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu triệu, sáu trăm nghìn đồng). Trong đó: Nợ gốc là 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày 14/6/2024 là 336.600.000 đồng (Ba trăm ba mươi sáu triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án cón phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Nhựt T1 (tên thường gọi: Nguyễn Nhựt H), bà Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 35.064.000 đồng (Ba mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

4/. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5/. Án sơ thẩm xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Minh Sơn

Bùi Công Bằng

Lê Trường Hận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 109/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger