Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày 06-12-2024

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để

Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Ngọc T (Hổ), sinh ngày 18 tháng 09 năm 2003 tại A, Kiên Giang; CCCD: [...]; Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn H (đã qua đời) và bà Nguyễn Thị Kim A; chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 11/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 29/2022/HS-ST; Ngày 10/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 37/2024/HS-ST; Tiền sự: không; Bị cáo đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện A; có mặt tại phiên tòa.

2. Đoàn Văn D (tên gọi khác: Dũng C), sinh ngày 01 tháng 7 năm 1998 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi ĐKTT: khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú hiện nay: khu phố D, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Đoàn Văn Đ và bà Trần Thị Cẩm Đ1; vợ Nguyễn Thị Huyền T1; con có 02 người, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Ngày 30/6/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 năm tù tại Bản án số 195/2021/HS-ST; tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 26/9/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang ra quyết định đưa vào trường G thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 3302/QĐ; Ngày 25/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 02/QĐ-TA; Ngày 26/6/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng tại bản án số: 64/2024/HS-ST; Bị cáo đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh K; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Mai Tấn T2, Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).

- Bị hại: Anh Phạm Anh L, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số D, đường Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 22/12/2023 bị can Trần Ngọc T, sinh năm 2003, nhờ người bạn tên H1 nhà ở K Q thuộc xã Đ, huyện A chở bị can T đến nhà bị can Đoàn Văn D ở khu phố D, thị trấn T, huyện A chơi. Bị can Trần Ngọc T ngồi chơi một lúc thì Trần Ngọc T nói với D là “chở tôi đi sanh sữa” có nghĩa là đi trộm cắp tài sản thì D đồng ý. D lấy chiếc xe mô tô hiệu Suzuki Raider, biển kiểm soát 94K2-138.11 của D chở T đi ra đường hành lang ven biển phía Nam (lộ X) đi về hướng xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Khi chạy tới cầu K ấp T trái vào lộ đal được một đoạn khoảng 03 km tới cầu bê tông thì T phát hiện 01 (Một) chiếc xe hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển kiểm soát 68S1-588.07 của anh Phạm Anh L đậu ở hàng ba nhà cặp sông thuộc ấp V, xã Đ, huyện A, không có người trông giữ. Lúc này, T kêu D dừng xe lại để T bước xuống xe tiếp cận, lấy xe dẫn ra lộ. Sau đó, T ngồi trên xe cho D đẩy xe trộm được lại chỗ vắng cách đó khoảng 01 km về hướng lộ X rồi dừng lại. D điều khiển xe của D chạy về trước, còn T tháo gở mặt nạ xe mới trộm được, rồi bứt dây điện ổ khóa xe câu lại, T đạp xe khởi động được chạy xe về nhà cất giấu ở ấp Đ, xã Đ, huyện A. Đến khoảng 03 giờ ngày 23/12/2023 bị can D chạy xe về nhà, T điện thoại cho D tìm xem có chỗ nào bán xe không, D nói để kiếm coi có không, đến sáng ngày 24/12/2023 D điện thoại nói với T có chỗ bán xe nhưng D không nói bán xe giá bao nhiêu và nói tới để thương lượng, T kêu D chạy vào nhà T dẫn T đi bán xe rồi trả tiền cho D luôn (trả tiền T mượn của vợ D trước đó 1.000.000đ). Khoảng 11 giờ ngày 24/12/2023, D chạy xe biển kiểm soát 94K2-138.11 rủ Thái Văn T3 ngụ ấp C, xã Đ, huyện A đi công việc cùng với D (D không nói là đi bán xe của T trộm được), khi D và Thái Văn T3 tới nhà của T, T lấy chiếc xe trộm được đi cùng D, T3 để đi bán xe, khi D, T và T3 chạy xe ra khỏi cầu K 10 Q lộ X dừng xe lại chờ người mua xe đến để bán xe thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật (Chiếc xe trộm được). Qua kiểm tra trên người của Đoàn Văn D Cơ quan điều tra Công an huyện thu giữ 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, trên thân súng có chữ XIAOYUELIANG có lấp 06 viên đạn màu vàng, đầu đạn màu đen; 01 gói thuốc Jet màu trắng bên trong có chứa thuốc lá và 01 túi nylon trong suốt, có rãnh gài sọc màu đỏ, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy. Tiến hành khám xét chổ ở Cơ quan điều tra Công an huyện thu giữ 10 viên đạn màu vàng đồng, đầu đạn màu trắng.

Đối với 01 gói thuốc Jet màu trắng bên trong có chứa thuốc lá và 01 túi nylon trong suốt, có rãnh gài sọc màu đỏ, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy trên người của Đoàn Văn D là của Trần Ngọc T. Do trong lúc bị can T, D và T3 đứng đợi người ra mua chiếc xe thì D xin T thuốc hút, T đưa gói thuốc lá có chứa ma túy cho D thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, bản thân D không biết bên trong gói thuốc lá có chứa gói ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Ngọc T và bị can Đoàn Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang ra yêu cầu Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 (Một) Chiếc xe hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển kiểm soát 68S1-588.07 mua năm 2020, tổng giá trị tài sản theo định giá là 10.500.000 đồng.

Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang trưng cầu Phòng K Công an tỉnh K giám định ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 1355/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh K, kết luận: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2033 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản kết luận giám định số 371/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: (1) Khẩu súng ổ quay gửi giám định nguyên là đồ chơi nguy hiểm được chế tạo thủ công để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm. Hiện tại, khẩu súng bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng ổ quay nêu trên bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong; (2) 06 viên đạn gửi giám định là loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm, không phải là vũ khí quân dụng và sử dụng để bắn được khẩu súng ổ quay nêu trên; (3) 10 viên đạn gửi giám định là đạn được chế tạo thủ công có tính năng, tác dụng tương tự như công cụ hỗ trợ, không phải vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng phù hợp bắn với loại đạn trên trúng cơ thể người có thể gây thương tích.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ:

+ 01 (Một) Chiếc xe hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển kiểm soát 68S1-588.07 mua năm 2020. Cơ quan CSĐT Công an huyện A đã trả lại cho Phạm A1 Luân ngày 10/5/2024.

+ 01 (Một) Chiếc xe mô tô hiệu Suzuki Raider, biển kiểm soát 94K2-138.11 của Nguyễn Thị Huyền T1. Cơ quan CSĐT Công an huyện A đã trả lại cho Nguyễn Thị Huyền T1 ngày 18/5/2024.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu.

Tại Cáo trạng số 84/CT-VKS-AM ngày 30-09-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Ngọc Thảo về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố Đoàn Văn D về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên kết luận:

- Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy đề nghị:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt theo quy định.

- Bị cáo Đoàn Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt theo quy định.

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy theo quy định. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

- Bị cáo trình bày: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi vi phạm của mình (bị cáo D có xin xác định nội dung là bị cáo không có đẩy xe); các bị cáo trình bày đã biết lỗi, hối hận về hành vi vi phạm của bản thân. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo T: Đề nghị không áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự vì Cáo trạng đã xác định tình tiết kết án để định tội theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xin xem xét cho bị cáo đã thành khẩn khai báo; gia đình thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh đang khó khăn nên đề nghị xử phạt mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Cáo trạng của Viện kiểm sát có sai lầm trong áp dụng pháp luật như sau: xác định bị cáo T phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là tình tiết đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích nhưng đồng thời lại đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là mâu thuẫn (vì tình tiết đã bị kết án vừa dùng để định tội vừa dùng làm tình tiết tăng nặng). Mặt khác, tài sản các bị cáo trộm cắp được định giá 10.500.000 đồng là đủ định lượng của tội Trộm cắp tài sản nên không cần phải có tình tiết đã bị kết án, chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, qua tranh tụng tại phiên tòa Kiểm sát viên đã đề nghị xác định bị cáo T phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (không áp dụng điểm b) và vẫn giữ nguyên quan điểm xác định bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Thấy rằng nội dung vụ việc rõ ràng; việc áp dụng sai pháp luật (đã được khắc phục tại phiên tòa) không ảnh hưởng đến tội danh của bị cáo; việc giữ nguyên tình tiết tăng nặng không làm xấu đi tình trạng của bị cáo (vì Cáo trạng đã đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng). Do đó, HĐXX thấy không cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đề nghị Viện kiểm sát rút kinh nghiệm trong thời gian tới.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

[2.1] Vào lúc 11 giờ 25 phút, ngày 24/12/2023, tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an huyện A bắt quả tang Trần Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua điều tra, xác định được vào ngày 21/12/2023, T liên hệ mua ma túy của một người lạ mặt, T đi mua một mình tại Cầu K 10 Q, sau đó cất giấu ma túy trong gói thuốc lá JET, mục đích mua ma túy là để sử dụng. Vào ngày 24/12/2023, trước thời điểm bị Công an bắt quả tang, khi T, D và T3 dừng xe tại ấp T, xã Đ thì D hỏi T có thuốc hút không nên T đưa gói thuốc có chứa ma túy cho D để D lấy thuốc hút, D không biết trong gói thuốc có chứa ma túy nên cất giữ trong người, khi Công an khám xét thì phát hiện. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà Trần Ngọc T tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2033gam.

[2.2] Đồng thời, qua điều tra đã xác định, vào khoảng 23 giờ ngày 22/12/2023, Trần Ngọc T đến nhà Đoàn Văn D chơi và rủ D “chở tôi đi sanh sữa” nghĩa là chở T đi tìm tài sản để lấy trộm thì D đồng ý và lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, biển kiểm soát 94K2-138.11 chở T đi theo đường hành lang ven biển phía nam về hướng xã Đ, huyện A, Kiên Giang. Khi đến cầu K Ấp T quẹo trái vào lộ đal được một đoạn khoảng 03km đến cầu bê tông thì T đi vào lấy trộm 01 chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu xanh, biển kiểm soát 68S1-588.07 của anh Phạm Anh L đang đậu ở hàng ba nhà, sau đó T dẫn chiếc xe ra lộ, đến chỗ vắng cách địa điểm lấy trộm khoảng 01km Thảo tháo gỡ mặt nạ xe, bứt dây điện để khởi động xe và điều khiển xe về nhà cất giấu. Đến ngày 24/12/2023, T và D đem chiếc xe đi bán, trong lúc chờ người mua xe đến thì bị Công an phát hiện và thu giữ chiếc xe. Tài sản theo định giá có giá trị 10.500.000 đồng.

[3] Về tội danh:

[3.1] Đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo T đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của các bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo T tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng là 0,2033 gam. Vào thời điểm bắt phạm tội quả tang số ma túy bị cáo T tàng trữ được phát hiện trên người bị cáo D, tuy nhiên bị cáo D không biết bên trong gói thuốc JET bị cáo T đưa có chứa ma túy, bị cáo D chỉ xin thuốc lá để hút, chưa kịp trả lại gói thuốc cho bị cáo T thì bị Công an phát hiện nên có căn cứ xác định người tàng trữ ma túy là bị cáo T, bị cáo D chỉ tình cờ quản lý gói thuốc lá có chứa ma túy, không phải là đồng phạm. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Ngọc T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3.2] Đối với tội Trộm cắp tài sản: bị cáo Trần Ngọc T cùng với bị cáo Đoàn Văn D, các bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu xanh, biển kiểm soát 68S1-588.07 của anh Phạm Anh L, trong đó bị cáo T là người rủ rê và trực tiếp lấy trộm tài sản, bị cáo D là người điều khiển xe chở bị cáo T đi tìm tài sản lấy trộm, canh đường và giúp cho bị cáo T chiếm đoạt chiếc xe lấy trộm được đi khỏi hiện trường; sau đó hai bị cáo cùng nhau đem chiếc xe đã lấy trộm được bán cho người khác. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị theo định giá là 10.500.000 đồng, đây là tình tiết định tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T đã 02 lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 29/2022/HS-ST của TAND huyện U Minh Thượng và Bản án số 37/2024/HS-ST của TAND huyện An Minh. Bản án số 37/2024/HS-ST được xét xử vào ngày 10/5/2024 có xác định bị cáo T chịu tình tiết tăng nặng tái phạm. Tuy nhiên, bản án này được xét xử sau khi bị cáo đã thực hiện hành vi (đang bị xét xử) nên bị cáo T không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát truy tố, kết luận bị cáo Trần Ngọc T và Đoàn Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Ngày 11/11/2022 bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 29/2022/HS-ST; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản. Do đó, bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo D, ngày 30/6/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 năm tù tại Bản án số 195/2021/HS-ST, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo T và D phạm nhiều tội và liên tục thực hiện hành vi vi phạm. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo D và T đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng các bị cáo liên tục thực hiện hành vi phạm tội, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương, nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn. Khi quyết định hình phạt thấy các bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội liên tục cần phải xử phạt nghiêm khắc, nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo.

Do bị cáo Thảo phạm nhiều tội; bị cáo T đang chấp hành hình phạt 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số: 37/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; bị cáo D đang chấp hành hình phạt 02 (hai) năm tù về tội Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng tại Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang. Do đó, hình phạt sẽ được tổng hợp theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Hình sự để buộc các bị cáo chấp hành.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã giao trả lại cho bị hại nhận, bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

[6] Về vật chứng, ma túy là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí, bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên HĐXX miễn nộp tiền án phí cho bị cáo.

[8] Đối với Thái Văn T3 không đủ căn cứ để chứng minh có vai trò đồng phạm với các bị cáo về hành vi Trộm cắp tài sản, nên Công an huyện A không xử lý là có căn cứ.

Đối với hành vi chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của bị cáo Đoàn Văn D đã được Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử tại bản án số: 64/2024/HS-ST ngày 26/6/2024.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T (Hổ) phạm tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T (Hổ) 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

1.2- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T (Hổ) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1.3- Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Trần Ngọc T (Hổ) chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

1.4- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 37/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

Buộc bị cáo Trần Ngọc T (H2) phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày ngày 24/12/2023.

2- Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn D (Dũng C) phạm tội Trộm cắp tài sản.

2.1- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn D (Dũng Chim X) 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

2.2- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng tại Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Buộc bị cáo Đoàn Văn D (Dũng Chim X) phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 24/12/2023.

3- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao gói được niêm phong trong một phong bì ký hiệu vụ số 1355/2023, khối lượng ma túy 0,2033 gam loại Methamphetamine (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 46/QĐ-VKS-AM ngày 01-10-2024 của VKSND huyện An Minh).

4- Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xem xét.

5- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 11,23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 06-12-2024); bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; NBC; BH;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND TT. Thứ Mười Một, AM, KG;
  • - UBND xã Đông Hưng, AM, KG
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về vụ án hình sự: trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc T và Đoàn Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger