|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 29-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hoè.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoá;
Ông Lưu Văn Đê.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh H, sinh ngày 01/11/1944. Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1902 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1904 (đã chết); anh chị em ruột có mười người, bị cáo là thứ bảy; bị cáo có vợ là bà Phan Thị H1, sinh năm 1948 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1974, con nhỏ nhất sinh năm 1982; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Bị hại: Ông Phạm Mạnh T, sinh năm 1952. Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của ông T: Anh Phạm Gia T1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: S, khu đô thị V, phường T, quận N, thành phố Hà Nội.
- Người làm chứng:
- Anh Lương Văn H2, sinh năm 1989;
- Ông Trần Văn V, sinh năm 1963;
(Có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại; vắng mặt anh H2, ông V).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh H chưa có giấy phép lái xe hạng B1. Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/7/2024, H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, biển số 35A-077.26 đi trên trục đường liên xã theo hướng xã H đi Quốc lộ B. Khi đến khu vực ngã tư giao cắt với trục đường Ủy ban nhân dân xã H đi xã H, thuộc khu vực xóm Q, xã H, huyện H. Phía bên phải theo hướng di chuyển của H có biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên nhưng H không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến ba đờ sốc trước bên trái xe ô tô biển số 35A-077.26 xô vào lốp, đầu trục, càng xe, cụm chi tiết phanh bánh trước bên phải xe mô tô biển số 29-376-TT do ông Phạm Mạnh T điều khiển di chuyển theo hướng Ủy ban nhân dân xã H đi xã H. Hậu quả: ông T bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện V1 đến ngày 04/8/2024 tử vong; xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng. Quá trình điều tra, Nguyễn Minh H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1418/KLGĐTT-KTHS ngày 15/8/2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Nạn nhân Phạm Mạnh T chết do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ, dập não điều trị không hồi phục.
Tại Bản kết luận giám định số 1456/KL-KTHS ngày 30/8/2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là góc ba đờ sốc trước bên trái xe ô tô biển số 35A-077.26 với lốp, đầu trục, càng xe, cụm chi tiết phanh bánh trước bên phải xe mô tô biển số 29-376-TT.
Tại Bản kết luận giám định số 1316/KL-KTHS ngày 20/8/2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Tốc độ của xe mô tô biển số 29-376-TT từ thời điểm 07h16'33” đến thời điểm 07h16’34” ngay trước khi xảy ra va chạm là 21,6 km/h (± 0,864 km/h).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 53/KL-ĐGTS ngày 11/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 35A-077.26 là 8.960.000 đồng; xe mô tô biển số 29-376-TT là 740.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô biển số 29-376-TT của ông Phạm Mạnh T và xe ô tô biển số 35A-077.26 của bị cáo Nguyễn Minh H. Bị cáo H và người đại diện hợp pháp của ông T đều xin nhận lại xe, tự nguyện sửa chữa mà không yêu cầu bồi thường về tài sản nên cơ quan điều tra đã trả lại phương tiện cho các sở hữu, sử dụng.
Cáo trạng số 107/CT-VKS-HH ngày 14-11-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Minh H trình bày hoàn cảnh: Bị cáo đã 80 tuổi, huyết áp cao nên thường xuyên phải dùng thuốc; bản thân cũng đã rất ăn năn hối cải vì sự việc đã gây ra đối với bị hại. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã cùng các con đến thăm hỏi và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Vì vậy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để chữa bệnh, chăm lo tuổi già. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, o, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận.
Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và các kết luận giám định, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Minh H chưa có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/7/2024, H điều khiển xe ô tô biển số 35A-077.26 đi trên trục đường liên xã hướng từ xã H đi Quốc lộ B. Khi đi đến khu vực ngã tư giao cắt với trục đường từ Ủy ban nhân dân xã H đi xã H (thuộc khu vực xóm Q, xã H), mặc dù phía trước có biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên nhưng bị cáo H đã
không chú ý quan sát, giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn (Vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ (được sửa đổi bổ sung năm 2019); khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G) dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 29-376-TT do ông Phạm Mạnh T điều khiển di chuyển theo hướng Ủy ban nhân dân xã H đi xã H. Hậu quả: Ông Phạm Mạnh T tử vong do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ. Bị cáo là người có thể chất tinh thần bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ mà còn xâm phạm, đe dọa xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Bị cáo đã điều khiển phương tiện giao thông có động cơ là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định; khi điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường đã cẩu thả, thiếu chú ý quan sát gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo là người cao tuổi (80 tuổi); người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương chiến sỹ giải phóng thời kỳ chống Mỹ cứu nước hạng Nhất”, “Huân chương chiến sỹ giải phóng thời kỳ chống Mỹ cứu Nước hạng Nhì”, “Huân chương chiến sỹ giải phóng thời kỳ chống Mỹ cứu nước hạng Ba” và “Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, thật thà ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, o, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng; phạm tội với lỗi vô ý. Hơn nữa, bị cáo tuổi đã cao nên sức khỏe yếu; quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại; từ khi được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cho tại ngoại đến nay, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, đã thực sự hối cải, có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát
viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 268.320.000 đồng. Đến nay, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên về phần dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại xe mô tô biển số 29-376-TT và xe ô tô biển số 35A-077.26 cho bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại. Các bên đều nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[8] Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, o, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1.2. Xử phạt Nguyễn Minh H 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2024.
Giao bị cáo Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Minh H.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Minh H được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Thị Hòe |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
