TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày 22 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thân Thị Lụa và ông Nguyễn Văn Thái
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Nương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử trực tuyến Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 123/2024/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn L, sinh năm 1993 tại tỉnh Lai Châu; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Q (đã chết) và bà Lò Thị L, sinh năm 1964; vợ là Tòng Thị X, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: Chưa có; tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định số 01 ngày 01/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 22 tháng. (Lò Văn Lả chưa chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc).
Nhân thân:
- + Ngày 12/10/2022, Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 75/QĐ-MT (Lò Văn Lả đã thi hành xong).
- + Ngày 05/5/2023, Lò Văn L bị Công an xã Trung Đồng xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định số 58/QĐ-XPHC.
- + Ngày 06/10/2023, Lò Văn L bị Công an xã Trung Đồng xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định số 247/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên toà trực tuyến).
- - Bị hại: Anh HE ZHI Y, sinh năm 1994; nơi thường trú: tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Nơi tạm trú và nơi ở hiện tại: Khách sạn Ravatel, số 3 đường Hùng Vương 1, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- - Người phiên dịch: Chị Lê Thu N, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Đinh Văn D, sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn Phượng N, xã K, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp cho anh Đinh Văn Dũng: Ông Đinh Văn P, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn P, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- + Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- - Người làm chứng:
- + Anh Trần Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Y, xã Tiền P, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- + Anh Dương Văn P, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố My Đ, phường N, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10 năm 2023, Lò Văn L, sinh năm 1993 ở Bản Phiêng Phát, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đi đến thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để tìm việc làm. Do bị nghiện ma tuý và không có tiền chi tiêu nên L nảy sinh ý định tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 10 giờ ngày 28/8/2024, L đi bộ đến khu Công nghiệp Vân Trung thuộc địa phận xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường nội bộ RD1 khu công nghiệp Vân Trung thuộc địa phận thôn Chiền, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang thì L thấy ở khu vực ngã ba có nhiều xe mô tô để ở lòng đường, quan sát thấy không có người trông coi nên L đi đến vị trí chiếc xe mô tô nhãn hiệu YALIM, màu sơn trắng – đen, biển kiểm soát 98AB-072.43 của anh HE ZHI Y, sinh năm 1994 ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc hiện đang ở tại khách sạn Ravatel, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang dắt chiếc xe ra đường đi về hướng thôn Giá, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng được khoảng 50 mét thì bị tổ công tác Đồn Công an Quang Châu, Công an thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bắt quả tang.
Tang vật thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YALIM màu trắng - đen, BKS 98AB-072.43 số máy HDA139FMBA001636, số khung RL9SCBAL7NDA01636.
Ngày 28/8/2024, Đồn Công an Quang Châu chuyển toàn bộ hồ sơ và đối tượng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Dũng kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YALIM, BKS 98AB-072.43 trị giá là 6.600.000đồng.
Ngày 23/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh HE ZHI YI chiếc xe mô tô nhãn hiệu YALIM, BKS 98AB-072.43, anh HE ZHI YI đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
Tại cơ quan điều tra, Lò Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSYD ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Lò Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung, diễn biến hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xác định việc bị truy tố là đúng người, đúng tội, không oan. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Lò Văn L từ 09 tháng tù đến 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lò Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292, Điều 293, Điều 295 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.
[3] Xét về hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố thì thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 28/8/2024, tại khu vực đường nội bộ RD1 khu công nghiệp Vân Trung thuộc địa phân thôn Chiền, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Lò Văn L, sinh năm 1993 ở Bản Phiêng Phát, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô BKS 98AB-072.43 trị giá 6.600.000 đồng của anh HE ZHI Y, sinh năm 1994 ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc hiện đang ở tại khách sạn Ravatel, thành phố Bắc Giang thì bị tổ công tác Đồn Công an Quang Châu bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại. Hành vi nêu trên của Lò Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản cáo trạng số 117/CT-VKSYD ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố bị cáo Lò Văn L theo tội danh, điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, ham chơi, lười lao động, muốn có tiền tiêu sài nhanh chóng bằng con đường bất chính nên vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang và bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân thì thấy:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính ba lần về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.
Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và cộng đồng. Việc xử phạt bị cáo với mức hình phạt trong khung như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm này có quy định hình phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có công việc, nghề nghiệp, thu nhập gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên về vấn đề trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YALIM màu trắng – đen, BKS 98AB-072.43 số máy HDA139FMBA001636, số khung RL9SCBAL7NDA01636 đã được cơ quan điều tra trả lại cho anh HE ZHI Y. Xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo Lò Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331; Điều 333 và khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 và khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/8/2024.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thủy |
7
8
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản
