Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 109/2024/HSST

Ngày: 19/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thiện.

Bà Võ Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2023/ HSST ngày 28 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST – HS ngày 08/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Cao Bá G, sinh năm 1984; tại tỉnh Thanh Hóa.

    Căn cước công dân số: [...]

    Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Bá L và bà Trương Thị K; bị cáo có vợ và 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân: Ngày 24/12/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Long xử phạt 09 tháng tù về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Bản án số 60/HSST ngày 24/12/2003 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án và được xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2024 cho đến nay, (có mặt).

  2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1990, tại tỉnh Bình Phước

    Căn cước công dân số: [...]

    Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M; tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2024 đến nay, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 20/7/2024, Cao Bá G đi bộ từ nhà đến ngã ba “Sao Bọng” thuộc thôn B, xã Đ mua 200.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch). Sau khi mua xong, G mang ma túy đến nhà Nguyễn Văn T gần đó để cùng nhau sử dụng. Khi đến nơi, G nói với T: “Tao có miếng đá, mày có nồi (dụng cụ sử dụng ma túy) không, đem ra tao với mày cùng chơi”, thì T nói “Có” rồi đi vào phòng lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra để trên bàn. G lấy gói nylon chứa ma túy đổ vào trong “nồi”, rồi cả hai lần lượt sử dụng, bằng hình thức dùng bật lửa đốt nóng “nồi” lên rồi hút khói vào miệng, cả hai sử dụng ma túy và ngồi chơi được một lúc thì G đi về, còn T tiếp tục sử dụng đến 16 giờ 10 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang người cùng 01 bộ dụng sử dụng ma túy (ký hiệu M1) và 01 gói nylon bám dính chất ma túy (ký hiệu M2). Đến 17 giờ 35 phút cùng ngày, G đến Công an xã Đ đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như trên. Cơ quan công an test nhanh, T và G đều có kết quả dương tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 792/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

  • Chất xám (ký hiệu M1) bám dính trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0186 gam.
  • Chất màu trắng (ký hiệu M2) bám dính trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, mẫu ở dạng vết không xác định khối lượng.
  • Về vật chứng vụ án, đã xử lý: Số ma túy bị thu giữ đã sử dụng hết cho việc giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 bật lửa đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện B để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Tại Cáo trạng số 102/CT –VKS - BĐ ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Cao Bá G và Nguyễn Văn T về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát tuy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị Cao Bá G và Nguyễn Văn T phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Bá G từ 02 năm đến 02 năm, 06 tháng tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm, 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo Cao Bá G và Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng hai bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 20/7/2024, Cao Bá G mua 200.000 đồng ma túy đá của một người tên đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch). Sau khi mua xong, G mang ma túy đến nhà Nguyễn Văn T tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước để cùng nhau sử dụng.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Cao Bá G và Nguyễn Văn T đã phạm vào Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • “1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  • 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Khi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Tuy nhiên, do lối sống buông thả nên các bị cáo đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Xét toàn bộ vụ án, tính chất mức độ phạm tội của hai bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng.

Bị cáo Cao Bá G là người chủ động mua và cung cấp ma túy để các bị cáo sử dụng. Bản thân bị cáo đã từng có 01 tiền án về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T là người cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là con em lao động có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Cao Bá G có con còn nhỏ; sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo T có thời giam tham gia nghĩa vụ quân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, do các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Cần tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 bật lửa.

Đối với số ma túy bị thu giữ đã sử dụng hết cho việc giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho G (không rõ nhân thân, lý lịch), chỉ có lời khai của G, không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Cao Bá G và Nguyễn Văn T phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Cao Bá G 02 năm tù (hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù (hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2024.

[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 bật lửa.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010181 ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cao Bá G và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước.
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 109/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Bá G, k1, Đ 255
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger