|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01/10/2024
V/v “Xin ly hôn và nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Ứng Cương và ông Nguyễn Văn Kiện
- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Bành Bảo Ngọc – Kiểm Sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2024/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2024, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2024/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp HL, xã TL, huyện CT, tỉnh KG.
Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989
Địa chỉ: Số TQC, khu phố .., phường AB, thành phố RG, tỉnh KG
Chỗ ở hiện nay: ấp HH, xã TL, huyện CT, tỉnh KG
(Anh L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau vào năm 2012 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường AB, thành phố RG, tỉnh KG. Thời gian đầu chúng tôi chung sống rất hòa thuận và có 01 người con chung Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/02/2013 nhưng đến khoảng thời gian gần đây thì giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và anh chị đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn mâu thuẫn nhau. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn và có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn L
- Về việc nuôi con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng 01 người con chung Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/02/2023, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn L: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh vẫn không có văn bản trình bày về ý kiến nguyện vọng của mình. Sau đó, Tòa án tiếp tục tống đạt cũng như niêm yết nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật nhưng anh Nguyễn Văn L vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
- Về con chung: Giao 01 người con chung Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/02/2023 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N xác định là không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] - Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
[2] - Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L và yêu cầu được nuôi dưỡng 01 người con chung Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/02/2013. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Xin ly hôn và nuôi con chung”.
[3] - Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Nguyễn Văn L vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nghị thì có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị N theo quy định pháp luật.
[4] - Về nội dung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn L chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N xác nhận, sau khi kết hôn thì giữa chị và anh Nguyễn Văn L chung sống rất hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây thì giữa anh chị hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Đối với anh Nguyễn Văn L mặc dù Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải để mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên anh chị có cơ hội hàn gắn đoàn tụ nhưng anh Lê Văn Kháng vẫn vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để anh Nguyễn Văn L có mặt tham gia phiên tòa nhưng anh Nguyễn Văn L vẫn vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án thì chị Nguyễn Thị N vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn L và trên thực tế anh chị đã ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó, xét thấy việc chị Nguyễn Thị N xin được ly hôn đối với anh Nguyễn Văn L là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Văn L.
[5] Về con chung: Chị Nguyễn Thị N xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 người con chung Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/02/2013, hiện đang sống cùng chị. Nay chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con. HĐXX nhận thấy kể từ sau khi anh chị sống ly thân cho đến nay chị Nguyễn Thị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và chị vẫn chăm sóc tốt cho cháu nên HĐXX giao cháu Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/02/2013 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sinh sống của cháu và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn L có quyền thăm nom, chăm sóc các con mà không ai có quyền được cản trở.
[6] - Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Nguyễn Văn L đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Nguyễn Văn L vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất để xác định về tài sản chung cũng như nợ chung giữa anh chị được. Mặt khác, tại phiên toà chị Nguyễn Thị N khẳng định anh chị không tạo lập được tài sản gì chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung và nợ chung HĐXX không xem xét nếu sau này anh chị hoặc cơ quan tổ chức, cá nhân nào khác có yêu cầu xem xét về phần tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[7] - Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] - Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng chị được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005428 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L.
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L.
- Về quan hệ con chung: Giao 01 người con chung Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/02/2013 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn L có quyền thăm nom chăm sóc con mà không ai có quyền được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị N xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền án phí nhưng chị được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005428 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Đẩu |
Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 01/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 109/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn L
