Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 9 - 2024
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thu Thúy
  2. Bà Hồ Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thu Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Hương H, sinh năm 1989; nơi thường trú: tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1988; nơi thường trú: tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; hiện đang thi hành án tại Đội 4, K3 Đội làm tóc giả Trại giam Q; vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2024, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị Hương H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 27/4/2012 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau 05 năm. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh T có người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm vợ con dẫn đến vợ chồng cãi nhau, anh T còn đánh chị khi chị đang mang thai con thứ ba. Do mong muốn con cái có gia đình đầy đủ nên chị vẫn cố gắng hàn gắn, hòa giải với chồng nhưng anh T không thay đổi. Đến tháng 01/2022, anh T bị bắt về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và phải đi chấp hành án 07 năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Trại giam Q. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh Trần Văn T có 03 con chung là Trần Vũ Hà V, sinh ngày 20/8/2012; Trần Vũ Hà T1, sinh ngày 02/01/2015 và Trần Đại P, sinh ngày 01/5/2020. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cả ba con đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi).

Việc cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Trần Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai có xác nhận của Trại giam Q ngày 08/7/2024, bị đơn anh Trần Văn T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị Hương H tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình chung sống anh với chị H rất hạnh phúc. Trong thời gian anh chấp hành án tại Trại giam Q, hàng tháng chị H vẫn thăm hỏi, động viên anh. Đến tháng 7/2024, anh được biết chị H muốn ly hôn với anh, do vẫn còn chấp hành án dài, anh đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh và chị Vũ Thị H1 Huệ có 03 con chung là Trần Vũ Hà V, sinh ngày 20/8/2012; Trần Vũ Hà T1, sinh ngày 02/01/2015 và Trần Đại P, sinh ngày 01/5/2020. Anh có nguyện vọng giao con chung cho bố mẹ anh nuôi vì chị H không có công ăn việc làm, không nuôi được các con chung chu đáo.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị Vũ Thị H1 Huệ không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Xác minh tại địa phương, đại diện tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H cho biết: chị H và anh T là công dân cư trú tại địa phương. Mâu thuẫn của anh chị xuất phát từ kinh tế gia đình, anh T chưa tu chí làm ăn để chăm lo, gánh vác gia đình cùng chị H. Hiện, anh T đang chấp hành án phạt tù. Anh chị có 03 con chung hiện đang sống cùng chị H.

* Xác nhận tại khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cho biết hiện chị H cùng 03 con tạm trú tại địa phương từ tháng 7/2023 đến nay.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành ghi nhận nguyện vọng của cháu Trần Vũ Hà V, sinh ngày 20/8/2012 và Trần Vũ Hà T1, sinh ngày 02/01/2015 (con chung của chị H và anh T), các cháu Hà V và H đều có nguyện vọng được ở với mẹ.

* Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Vũ Thị Hương H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Văn T; về con chung: đề nghị được trực tiếp nuôi 03 con chung là Trần Vũ Hà V, sinh ngày 20/8/2012; Trần Vũ Hà T1, sinh ngày 02/01/2015 và Trần Đại P, sinh ngày 01/5/2020, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Bị đơn anh Trần Văn T có quan điểm đồng ý ly hôn với chị Vũ Thị Hương H.

* Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Vũ Thị Hương H và anh Trần Văn T được ly hôn; về con chung: giao 03 con chung là Trần Vũ Hà V, sinh ngày 20/8/2012; Trần Vũ Hà T1, sinh ngày 02/01/2015 và Trần Đại P, sinh ngày 01/5/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh T không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung; về tài sản chung: không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn có nơi cư trú trước khi đi chấp hành án tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với chị Vũ Thị Hương H và anh Trần Văn T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Hương H và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 27/4/2012, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của chị H và anh T phát sinh từ năm 2019, nguyên nhân xuất phát chủ yếu từ việc anh T không tu chí làm ăn. Tháng 01/2022, anh T bị bắt về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và phải đi chấp hành án 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Trại giam Q. Chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Anh T xác định vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.

Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là có mâu thuẫn, những mâu thuẫn này đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Hương H đối với anh Trần Văn T là có căn cứ theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Vũ Thị Hương H và anh Trần Văn T có 03 con chung là Trần Vũ Hà V, sinh ngày 20/8/2012; Trần Vũ Hà T1, sinh ngày 02/01/2015 và Trần Đại P, sinh ngày 01/5/2020. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi cả 03 con chung đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh T có quan điểm giao con chung cho ông bà nội nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay anh T đang chấp hành hình phạt tù không thể trực tiếp nuôi con. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chưa thành niên là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Tài liệu xác minh tại địa phương thấy hiện nay các con chung đang ở cùng với chị H và ông bà ngoại tại khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và học tập tại đây. Chị H hiện đang kinh doanh tại chợ Q1 thu nhập bình quân khoảng 8.000.000 đồng/tháng, đảm bảo sinh hoạt, học tập của các con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao ba con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên là phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với nguyện vọng được ở với mẹ của cháu Hà V và cháu Hà T1, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung; anh T cũng không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị Hương H và anh Trần Văn T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Đối với ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Hương H được ly hôn với anh Trần Văn T.
  2. Về con chung: giao con chung Trần Vũ Hà V, sinh ngày 20/8/2012; Trần Vũ Hà T1, sinh ngày 02/01/2015 và Trần Đại P, sinh ngày 01/5/2020 cho chị Vũ Thị Hương H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Trần Văn T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vũ Thị H1 H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Vũ Thị Hương H không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Trần Văn T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về án phí: Chị Vũ Thị Hương H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000945 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí.
  2. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn chị Vũ Thị Hương H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn anh Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long;
- Chi cục THADS TP Hạ Long;
- Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
- Ủy ban nhân dân phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Phạm Thị Cúc
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 29/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger