|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 109/2024/DS-ST Ngày: 26 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình
Ông Lê Hoàng Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024, về “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2024/QĐST- DS, ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1969-Chủ hộ kinh doanh Phương B1; nơi cư trú: Số nhà A, đường Đ, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số A, đường số D, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số A, đường số D, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị P, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số nhà A, đường Đ, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày:
Ông Hoàng Văn B là chủ hộ kinh doanh Phương B1. Trước đây ông B1 có đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho ông Phạm Văn T, bà Lê Thị T1 sản xuất nông nghiệp. Mỗi lần mua bán thì ông B1 đều ghi chép vào sổ cá nhân và các bên thoả thuận sau khi thu hoạch ông T, bà T1 phải thanh toán tiền cho ông B1. Sau một thời gian mua bán ngày 06/3/2024 các bên có chốt lại số tiền xác định tổng số tiền mà ông T, bà T1 đã mua và thiếu ông B1 là 107.050.000 đồng, các bên thoả thuận trong một tháng ông T, bà T1 phải hoàn trả cho ông B1 toàn bộ số tiền nợ. Việc chốt số tiền nợ được ông T viết, ký tên vào sổ tay theo dõi của ông B1, bà P. Sau khi hết thời hạn như thoả thuận ông B1 có liên hệ yêu cầu ông T, bà T1 hoàn trả số tiền, vì chưa có tiền nên ông T đồng ý sẽ trả toàn bộ nợ gốc và tiền lãi phát sinh, nhưng không thoả thuận mức lãi cụ thể bao nhiêu, cũng không lập thành văn bản. Thế nhưng từ đó đến nay ông T, bà T1 vẫn không hoàn trả cho ông B1, bà P số tiền nợ gốc cũng không trả lãi.
Tại đơn khởi kiện ngày 01/7/2024 ông B1 yêu cầu ông T, bà T1 liên đới phải trả số tiền nợ gốc là 107.050.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 06/3/2024 đến ngày 01/7/2024, theo mức lãi 1,66%/tháng với số tiền là 6.753.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông B1 yêu cầu ông T, bà T1 liên đới trả cho ông B1, bà P số tiền nợ gốc là 107.050.000 đồng và rút lại yêu cầu trả lãi. Ngoài ra ông B1 không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn ông Phạm Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1:
Mặc dù đã được Tòa án thông báo hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có đơn khởi kiện phản tố, đơn khởi kiện độc lập, cũng không có ý kiến, tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, cũng không tham gia làm việc và tham gia phiên tòa.
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Phương trình B2:
Thống nhất như phần trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiếu thông tin công dân trong cơ sở D về dân cư (bút lục 27) thể hiện:
Ông Phạm Văn T, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1990; nơi đăng ký khai sinh: Xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; quê quán: Huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nơi thường trú, nơi ở hiện tại: Số nhà A, đường số D, tổ B, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; cha: Phạm Văn L, mẹ Phạm Thị Y, vợ Lê Thị T1. Số hồ sơ cư trú: 23224-001546.
Tại phiếu thông tin công dân trong cơ sở D về dân cư (bút lục 28) thể hiện:
Bà Lê Thị T1, sinh ngày 21 tháng 10 năm 2000; nơi đăng ký khai sinh, quê quán: Xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi thường trú, nơi ở hiện tại: Số nhà A, đường số D, tổ B, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; cha: Lê Hải V, mẹ Đinh Thị K. Hồ sơ cư trú: 23224-001546.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1 không chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông T, bà T1 liên đới phải trả cho ông B1, bà P số tiền 107.050.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Phạm Văn T hiện cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do các đương sự cung cấp, quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 280 Bộ luật dân sự.
[3] Trong giai đọan chuẩn bị xét xử mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn ông T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1 đều vắng mặt không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt ông T, bà T1 tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1 không có đơn khởi kiện phản tố, đơn khởi kiện độc lập, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, cũng không tham gia làm việc, tham gia phiên tòa nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án.
[5] Tại phiên toà nguyên đơn rút yêu cầu Toà án buộc ông Phạm Văn T, bà Lê Thị T1 liên đới phải trả tiền lãi của khoản tiền nợ. Xét thấy, việc rút yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là tự nguyện, nên cần đình chỉ là phù hợp quy định của pháp luật.
[6] Tại phiên toà nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn T, bà Lê Thị T1 liên đới phải trả số tiền 107.050.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án chứng cứ sổ tay bản chính. Cùng với việc nộp đơn khởi kiện nguyên đơn đã thực hiện việc sao gửi đơn khởi kiện cho ông T, bà T1; đồng thời trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã tống đạt hợp lệ “Thông báo về việc thụ lý vụ án”, “Thông báo kết quả phiên họp” và các văn bản tố tụng khác cho ông T, bà T1. Nhưng ông T, bà T1 không phản đối, cũng không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến nội dung khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn đưa ra. Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì sổ tay có chữ ký của ông Phạm Văn T do nguyên đơn cung cấp là sự thật không phải chứng minh.
Theo nguyên đơn sau khi ông T mua phân bón từ cửa hàng của ông B1, bà P có nợ lại tiền, ngày 06/3/2024 ông T ghi vào sổ tay của ông B1 xác nhận lấy tiền đầu tư từ đại lý P1 số tiền 107.050.000 đồng và các bên thoả thuận bằng miệng trả toàn bộ số tiền trong vòng một tháng, tuy nhiên đến nay ông T, bà T1 không trả được cho ông B1, bà P số tiền nào. Quá trình tố tụng ông T, bà T1 không có ý kiến phản đối, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh sau chốt nợ và ghi xác nhận thì ông T, bà T1 đã trả cho ông B1 số tiền 107.050.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận.
[7] Theo phiếu thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do công an xã Đ cung cấp thể hiện ông T, bà T1 là vợ chồng. Theo ông B1 trình bày mục đích ông T mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nhằm đầu tư cho trồng trọt, phục vụ cho phát triển kinh tế gia đình, quá trình lấy phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bà T1 biết và có tham gia; bà T1 không có ý kiến phản đối, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông T nợ tiền mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không liên quan đến bà T1. Nên cần buộc ông T, bà T1 liên đới cùng trả là phù hợp.
[8] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ được chấp nhận nên bị đơn ông T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1 liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các khoản 2, 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 280, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 27, 30, 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện tính lãi của nguyên đơn ông Hoàng Văn B-Chủ hộ kinh doanh Phương B1.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn B-Chủ hộ kinh doanh Phương B1.
Buộc ông Phạm Văn T, bà Lê Thị T1 liên đới phải trả cho ông Hoàng Văn B-Chủ hộ kinh doanh Phương B1 và bà Phạm Thị P số tiền 107.050.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Ông Hoàng Văn B-Chủ hộ kinh doanh Phương B1 không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho ông Hoàng Văn B-Chủ hộ kinh doanh Phương B1 số tiền 2.845.000 đồng (Hai triệu tám trăm bốn mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004715, ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Ông Phạm Văn T, bà Lê Thị T1 liên đới phải chịu 5.352.500 đồng (Năm triệu ba trăm năm mươi hai ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 109/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Số bản án: 109/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Bang- Phạm Văn Tuấn "Tc hợp đồng vay tài sản"
