Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/DSST

Ngày: 23.9.2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thuỷ
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Thuý và bà Lê Thị Nhớ
  • Thư ký phiên toà: Bà Lương Lê Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa: Bà Lê Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 160/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T . Địa chỉ: 266- 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Gia Lâm. Chức vụ: Chuyên viên khách hàng. Địa chỉ: 225 Ông Ích Khiêm, phường Hải Châu II, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy ủy quyền số 32/2024/UQ-PGDCC ngày 03.01.2024). Có mặt.
  • Bị đơn: Ông Hồ Phước T - Sinh năm 1979; Địa chỉ: 174/4 Hùng Vương, phường Hải Châu II, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Hộ khẩu thường trú: K293/22 Hùng Vương, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T là ông Phạm Gia Lâm trình bày:

Ngày 08/3/2016, ông Hồ Phước T có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T 01 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng).

Căn cứ thu nhập của ông Toàn, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 12.000.000 đồng với mục đích: tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Toàn đã thực hiện 07 giao dịch với tổng số tiền 15.002.800 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 31/12/2016 ông Toàn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 6.150.000 đồng. Trong đó: thanh toán gốc: 3.089.043 đồng, lãi là 2.321.957 đồng + phí trễ hạn là 240.000 đồng, phí vượt hạn mức là 200.000đồng và phí khác là 299.000 đồng.

Đến ngày 01/4/2017, ông Toàn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Toàn và chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu (dư nợ) sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông Toàn có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông Toàn vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Tính đến ngày 23/9/2024, ông Hồ Phước T còn nợ tổng cộng là 62.878.687 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng; nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng. Do đó, Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương T đề nghị quý Tòa giải quyết:

  • - Buộc ông Hồ Phước T trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 23/9/2024 là 62.878.687 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng; nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng.
  • - Ông Hồ Phước T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng).

Tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ông Hồ Phước T cung cấp địa chỉ thường trú tại: 174/4 Hùng Vương, phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Quá trình thụ lý, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của bị đơn, theo Phiếu xác minh ngày 09/4/2024 của Toà án nhân dân quận Hải Châu, chính quyền địa phương xác định: Ông Hồ Phước T có đăng ký thường trú tại địa chỉ: K293/22 Hùng Vương, tổ 10 phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên thực tế ông

Toàn không sinh sống tại địa chỉ này. Tòa án nhân dân quận Thanh Khê tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Hồ Phước T như thông báo thụ lý, thông báo về việc kiểm tra giao nộp chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông Toàn theo đúng quy định của pháp luật, nhưng ông Toàn vẫn vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 471, 472, 473, 474 Bộ luật dân sự 2005 và các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T, buộc bị đơn ông Hồ Phước T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T tổng số tiền tính đến 23/9/2024 là 62.878.687 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng; nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sở thẩm, bị đơn ông Toàn còn phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tương ứng với số tiền nợ theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị mở thẻ kiêm hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp pháp luật trong tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Hồ Phước T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/9/2024 là 62.878.687 đồng (Trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng, nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng), theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 08/3/2016 và Bản điều khoản và điều kiện

phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng. Đây là vụ án về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về giao dịch dân sự, cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thông qua hình thức mở thẻ tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ông Hồ Phước Toàn. Bị đơn ông Toàn có đăng ký thường trú tại địa chỉ: K293/22 Hùng Vương, tổ 10 phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Quyết định tạm ngừng phiên toà cho bị đơn ông Hồ Phước T nhưng ông Toàn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng do ông Hồ Phước T đăng ký ngày 08/3/2016 và được Ngân hàng phê duyệt để ông Toàn được sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng với hạn mức 12.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Toàn không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng, ông thực hiện đợt thanh toán cuối cùng vào ngày 01/4/2017 nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Phước T phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày khởi kiện (13/4/2023) là 53.365.187 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 14.359.837 đồng; nợ lãi quá hạn là 539.005.350 đồng, cùng tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận và phải chịu mọi chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T yêu cầu Tòa án buộc ông Hồ Phước T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 23/9/2024 là 62.878.687 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng; nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng. Ngoài ra, ông Toàn còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng).

[4] Đối với bị đơn – ông Hồ Phước Toàn: Từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử không có mặt theo giấy triệu tập; thông báo của Toà án, không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà nên không có ý kiến lưu hồ sơ vụ án.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T thì thấy: Căn cứ "Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 08/3/2016 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng" của Ngân hàng phê duyệt cho ông Hồ Phước T hạn mức sử dụng thẻ tín dụng cũng như Bản tóm tắt sao kê thể hiện các lần giao dịch cũng như thanh toán của ông Hồ Phước T trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đã cấp thẻ tín dụng cho ông Hồ Phước Chi, hạn mức thẻ: 12.000.000 đồng; lãi suất trong hạn thay đổi theo từng thời kì; lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 23/9/2024, ông Hồ Phước T còn nợ Ngân hàng số tiền là là 62.878.687 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng, nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng. Đây là Hợp đồng tín dụng, có nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên khi ông Hồ Phước T vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền khởi kiện. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần buộc ông Hồ Phước T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với số tiền còn nợ như trên cho Ngân hàng theo quy định tại 471, 472, 473, 474 Bộ luật dân sự 2005 và các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

[6] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – ông Hồ Phước T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 62.878.687 đồng x 5% = 3.143.934đồng.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ các Điều 471, 472, 473, 474 của Bộ luật dân sự 2005;
  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đối với bị đơn ông Hồ Phước Toàn.

  1. Xử: Buộc ông Hồ Phước T phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T toàn bộ tổng số tiền tính đến ngày 23/9/2024 là 62.878.687 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng; nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.

  3. Án phí Dân sự sơ thẩm 3.143.934đồng ông Hồ Phước T phải chịu.
  4. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T số tiền tạm ứng án phí 1.330.130 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0002578 ngày 07 tháng 11 năm 2023.

  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKS nhân dân quận Thanh Khê, Đà Nẵng;
  • - Chi cục THA dân sự quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng;
  • - Chi cục THA dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Hồng Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/DSST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 109/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: : Buộc ông Hồ Phước T phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín toàn bộ tổng số tiền tính đến ngày 23/9/2024 là 62.878.687 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 11.910.957 đồng; nợ lãi quá hạn là 50.967.730 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger