Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 109/2024/DS-ST

Ngày: 19 - 9 - 2024

V/v: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất

(đòi lại quyền sử dụng đất)”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ân

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh
  2. Ông Võ Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 22A/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST - DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất (đòi lại quyền sử dụng đất)” giữa:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm 1962

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1936
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  3. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  5. Bà Trương Thị H, sinh năm 1959
  6. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  7. Bà Trương Thị M1, sinh năm 1960
  8. Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  9. Bà Trương Thị C, sinh năm 1964
  10. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  11. Bà Trương Thị Cẩm C1, sinh năm 1967
  12. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  13. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1978
  14. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn bà Trương Thị M trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của mẹ bà là Nguyễn Thị T1 cho bà làm từ năm 1980 đến năm 2015 thì làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho bà và bà đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 4.880m² đất chuyên trồng lúa nước. Bà M sử dụng đất đến năm 2023 thì mới phát hiện là ông S lấn đất. Phần đất tranh chấp có tổng diện tích là 241,8m² trong đó có 96,3m² đang nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà nên bà yêu cầu ông S trả lại cho bà, đối với phần đất 145,5m² mẹ bà là bà Nguyễn Thị T1 đứng tên sổ mục kê do đó yêu cầu trả lại cho chị em của bà.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh S trình bày: Phần đất tranh chấp ông được cha vợ là ông Nguyễn Văn P cho năm 2018, ông S canh tác cho đến nay. Trên đất hiện nay ông S trồng đu đủ, dừa và mít nhưng còn nhỏ. Ông S cho rằng cha vợ ông là ông P trước đó canh tác khoảng 50 năm sau đó mới cho lại ông. Phần đất tranh chấp hiện nay cha vợ ông và ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên gia đình ông sử dụng đã lâu nên yêu cầu của nguyên đơn là bà M thì ông S không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà B thống nhất với nội dung trình bày của chồng bà là ông Nguyễn Thanh S.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị M. Buộc ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn P trả cho bà Trương Thị M phần đất tại vị trí Ib diện tích 96,3m² thuộc thửa 1386, tờ bản đồ số 11A giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01245 cấp ngày 25/5/2015 cho bà Trương Thị M. Buộc ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn P trả cho bà Trương Thị M, Trương Thị H, Trương Thị M1, Trương Thị C và Trương Thị Cẩm C1 phần đất tại vị trí Ia diện tích 145,5m² thuộc thửa 693, tờ bản đồ số 11A theo Mảnh trích đo địa chính số 61 ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH Đ. Buộc ông S, bà B, ông P di dời toàn bộ cây trồng trên phần đất tranh chấp tại vị trí Ia, I theo Mảnh trích đo địa chính số 61 ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH Đ. Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá ông S, bà B phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn thấy rằng:

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp có diện tích 241,8m² đất chuyên trồng lúa nước. Bà M được mẹ bà là Nguyễn Thị T1 lập hợp đồng tặng cho ngày 22/4/2014 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/5/2015 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01245. Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất tranh chấp giữa bà M và ông S theo Mảnh trích đo địa chính số 61 ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH Đ thể hiện phần đất tranh chấp tại vị trí số Ib diện tích 96,3m² thuộc thửa 1386, tờ bản đồ số 11A giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01245 cấp ngày 25/5/2015 cho bà Trương Thị M. Đối với phần đất tranh chấp còn lại có diện tích 145,5m² không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M. Căn cứ Công văn số 3382/UBND ngày 06/9/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C thể hiện phần đất tại vị trí Ia thuộc thửa 693, tờ bản đồ số 11A bà Nguyễn Thị T1 đứng tên sổ mục kê. Tuy nhiên bà T1 hiện đã chết thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà T1 được quyền sử dụng đối với phần đất 145,5m², do đó Toà án không giao cho cá nhân bà M mà giao chung cho chị em bà M gồm bà Trương Thị H, Trương Thị M1, Trương Thị C và Trương Thị M và Trương Thị Cẩm C1. Ông S cho rằng phần đất tranh chấp cha vợ ông là ông Nguyễn Văn P canh tác khoảng 50 năm sau đó cho lại ông phần đất hiện đang tranh chấp. Ông S trình bày nhưng không cung cấp bất cứ giấy tờ gì để chứng minh cho lời trình bày của ông nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Mặt khác, thời điểm bà Nguyễn Thị T1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Trương Thị M khi tiến hành đo đạc thì ông Nguyễn Văn P có ký giáp ranh vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất (Bút lục 56), cho thấy ông không có tranh chấp gì với bà M. Do đó việc ông canh tác và cho lại ông S tiếp tục canh tác phần đất tranh chấp là không phù hợp. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 158, 163, 164, 166 của Bộ luật dân sự; Các điều 98, 99, 100, 166, 167, 170, 203 của Luật đất đai năm 2013;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị M.
  2. Buộc ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn P trả cho bà Trương Thị M phần đất tại vị trí Ib diện tích 96,3m² thuộc thửa 1386, tờ bản đồ số 11A giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01245 cấp ngày 25/5/2015 cho bà Trương Thị M.

Buộc ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn P trả cho bà Trương Thị M, Trương Thị H, Trương Thị M1, Trương Thị C và Trương Thị Cẩm C1 phần đất tại vị trí Ia diện tích 145,5m² thuộc thửa 693, tờ bản đồ số 11A theo Mảnh trích đo địa chính số 61 ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH Đ.

Buộc ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn P di dời toàn bộ cây trồng trên phần đất tranh chấp diện tích 241,8m² tại vị trí Ia, I theo Mảnh trích đo địa chính số 61 ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH Đ trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạn 45 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà ông S, bà B, ông P không di dời toàn bộ cây trồng trên đất thì bà Trương Thị M có quyền sử dụng toàn bộ cây trồng trên phần đất diện tích 241,8m² tại vị trí Ia, I theo Mảnh trích đo địa chính số 61 ngày 11/7/2024 của Công ty TNHH Đ.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị B phải chịu là 300.000 đồng. Bà Trương Thị M được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002829 ngày 22/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

[4] Chi phí thẩm định, định giá là 5.530.000 đồng, bà M đã nộp xong. Ông S, bà B có nghĩa vụ trả lại cho bà M 5.530.000 đồng.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Hoài Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về quyền sử dụng đất (đòi lại quyền sử dụng đất)

  • Số bản án: 109/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất (đòi lại quyền sử dụng đất)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger