TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18-9-2024 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Lương Công Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Vào ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/QĐXX-ST ngày 28/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1971; Địa chỉ: thôn C, xã A, thành phố T, Phú Yên.
- Bị đơn: Bà Đào Thị Kim O, sinh năm: 1981; Địa chỉ: thôn C, xã A, thành phố T, Phú Yên.
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn vắng mặt lúc tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (T) và bà Đào Thị Kim O tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, công việc của tôi là đi làm công trình thường xa nhà để kiếm tiền lo cho vợ con. Đến năm 2020, tôi bị tai nạn, bị bệnh nên không đi làm được thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Bà O coi thường tôi, không nghe lời tôi và cản trở không cho tôi đi làm. Nay tôi thấy không thể tiếp tục cuộc sống chung được nữa nên làm đơn đề nghị Tòa giải quyết cho tôi được ly hôn.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Trần Thành D, sinh ngày 26/6/2010; Trần Thành N, sinh ngày 15/12/2011 và Trần Bảo A, sinh ngày 08/01/2018. Hiện các con đang sống chung với vợ chồng. Ly hôn, tôi xin được nuôi 03 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Nếu các con muốn ở với mẹ thì tôi đồng ý giao 03 con chung cho bà O nuôi, tôi cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng/03 con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn bà Đào Thị Kim O trình bày.
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (O) thống nhất về thời gian, nơi đăng ký kết hôn như ông Trần Văn T trình bày. Tuy nhiên, vợ chồng không có mâu thuẫn gì để ông T làm đơn ly hôn. Lý do ông T làm đơn ly hôn là vào năm 2020, ông T bị tai nạn xe máy, bị chấn thương sọ não, phải cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H. Đến nay bệnh tình vẫn không suy giảm, vẫn còn di chứng dẫn đến loạn thần; vào ngày 01/8/2024 vừa rồi ông T vừa nhập viện để điều trị bệnh, có Giấy ra viện tôi đã cung cấp cho Tòa. Khi chồng tôi bị bệnh tôi vẫn chăm sóc nhưng ông T không vừa ý mà thường hay chửi bới, đánh đập tôi chứ không phải tôi coi thường hay không nghe lời gì. Nay dù ông T làm đơn xin ly hôn nhưng tôi không đồng ý vì tôi vẫn thương chồng con, tôi không đành bỏ chồng trong lúc bệnh đau và còn có 03 con nhỏ cần được chăm sóc nên đề nghị Tòa xem xét.
- Về con chung: Có 03 con chung như ông T trình bày. Hiện các con đang sống chung với vợ chồng. Tôi không đồng ý ly hôn nên tôi không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với bị đơn.
Bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Trần Văn T và bị đơn bà Đào Thị Kim O tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào năm 2009, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Theo trình bày của nguyên đơn ông T, đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bà O coi thường ông, ông không thể tiếp tục chung sống được nữa nên làm đơn xin được ly hôn. Bị đơn bà O xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì, nguyên nhân ông T làm đơn ly hôn là do ông T bị di chứng của tai nạn giao thông; bà không đồng ý ly hôn vì bà vẫn còn thương chồng và vợ chồng còn có 03 con nhỏ cần được chăm sóc. Căn cứ vào các tài liệu do bị đơn cung cấp và lời khai của hai bên xác định: Vào năm 2020, ông T bị tai nạn giao thông và phải nhập viện điều trị; thể hiện tại Giấy ra viện ngày 13/01/2020 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh P. Sau khi ra viện, ông T không đi làm được nhưng bà O vẫn quan tâm, chăm sóc và chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình cùng với ông T. Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án thì ngày 01/8/2024, ông T nhập viện để điều trị; tại Giấy ra viện ngày 05/8/2024, Bệnh viện đa khoa tỉnh P chẩn đoán ông T: “F06–Loạn thần, tổn thương nhu mô não cũ trán-thái dương hai bên /chấn thương sọ não do tai nạn giao thông”. Căn cứ Đơn xin xác nhận ngày 20/8/2024, Phó Trưởng thôn Chính N1 xác nhận: “Ông Trần Văn T là chồng bà Đào Thị Kim O có vấn đề về bệnh tâm thần theo lời bà O nêu là sự thật” và được UBND xã A xác nhận; thể hiện được ông T vẫn còn di chứng của tai nạn giao thông và cần người chăm sóc. Như vậy, quá trình chung sống từ khi kết hôn cho đến trước khi ông T bị tai nạn thì vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì; sau khi ông T bị tai nạn, bà O vẫn làm tròn trách nhiệm, chăm sóc ông T, không vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng. Việc ông T xin ly hôn với lý do bà O coi thường, không nghe lời ông là không có căn cứ; bà O cũng không thừa nhận có việc này. Xét mâu thuẫn của vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, vợ chồng vẫn chung sống với nhau, cùng chăm sóc con chung, không vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng nên không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
[2] Về con chung, tài sản chung: Do yêu cầu ly hôn của nguyên đơn không được chấp nhận nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T về việc ly hôn với bị đơn bà Đào Thị Kim O.
- - Về con chung, tài sản chung: Do yêu cầu ly hôn của nguyên đơn không được chấp nhận nên không xem xét, giải quyết.
- - Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nguyên đơn ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002584 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Nguyên đơn vắng mặt lúc tuyên án không có lý do và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 109/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn bị đơn
