|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 109/2024/DS-ST Ngày: 17 – 9 – 2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Minh;
- Ông Phạm Văn Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chí Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/8/2024, 16/9/2024 và 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 35/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Thông báo mở lại phiên tòa số: 334/TB-TA ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Văn P, sinh năm 1964.
- Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1966.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Thị H, sinh năm 1974.
- Nguyễn Văn Ở, sinh năm 1993.
- Nguyễn Văn L, sinh năm 1999.
- Trần Thị B, sinh năm 1963.
- Trần Tuyến D, sinh năm 1987.
- Trần Phước V1, sinh năm 1994.
- Trần Tuyến V2, sinh năm 2005.
- Trần Hồ Huỳnh N, sinh năm 2017.
- Trần Hồ Gia B1, sinh năm 2020.
- Hồ Thị L1, sinh năm 1993.
- Nguyễn Văn N1, sinh năm 1930 (đã chết).
- Võ Thị B2, sinh năm 1944 (đã chết).
- + Nguyễn Thị M, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp K, xã T, thành phố S, Đồng Tháp.
- + Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- + Nguyễn Văn T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- + Nguyễn Thị L2, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- + Nguyễn Thị C, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- + Nguyễn Thị D1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- + Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- + Nguyễn Thị Y, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Nguyễn Văn H1 (đã chết).
- + Lê Thị H2, sinh năm 1966.
- + Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989.
- + Nguyễn Văn S, sinh năm 1993.
- Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị L2, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị C, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị Y, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Nguyễn Thị M, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị D1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ủy ban nhân dân huyện T.
- Ủy ban nhân dân xã B.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Văn L3, sinh năm 1952. Địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thái S1 (tên thường gọi là Ba H3), sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Dương Hoàng V, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số B, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/4/2022).
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Ở, anh L: Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1974 (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 01/11/2022).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật của Trần Hồ Huỳnh N, Trần Hồ Gia B1 là anh Trần Phước V1 và chị Hồ Thị L1.
Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị B, anh Trần Tuyến D, anh Trần Phước V1, anh Trần Tuyến V2: Trần Văn P, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 12/01/2023).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N1 và bà B2:
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H1:
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Y: Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 08/01/2024).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Thành N2. Chức vụ: Chủ tịch. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Phước Vĩnh . Chức vụ: Chủ tịch. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn Trần Văn P có người đại diện hợp pháp là ông Dương Hoàng V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị B, Trần Tuyến D, Trần Phước V1, Trần Tuyến V2 có người đại diện hợp pháp là ông Trần Văn P trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn N1 chuyển nhượng cho ông Trần Văn P vào năm 2003; giá thỏa thuận là 13.500.000 (Mười ba triệu năm trăm nghìn) đồng; ông P đã giao tiền và nhận đất sử dụng. Thời điểm chuyển nhượng, ông N1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông P đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 2676, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.000m², tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, mục đích sử dụng đất lúa, đến ngày 24/6/2003 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vào năm 2015, hộ ông P làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hệ thống bản đồ địa chính chính quy, thửa đất cấp mới thay đổi thành thửa 984, tờ bản đồ số 6, diện tích 806,3m², tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 24/12/2015.
Đến khoảng cuối năm 2019, ông Nguyễn Văn T là con của ông Nguyễn Văn N1 tự ý lấy lại phần đất để sử dụng vì cho rằng ông N1 chỉ có cố cho ông P.
Theo đơn khởi kiện và tại phiên hòa giải, ông P yêu cầu ông T trả cho ông diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế 806,3m² trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M1, thuộc thửa đất số 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc của Công ty TNHH D2.
Tại phiên tòa, ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 có người đại diện hợp pháp tự nguyện đồng ý giao trả lại diện tích đất 806,3m² cho người thừa kế của ông Nguyễn Văn N1, bà Võ Thị B2 là bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị D1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Văn H1 (ông H1 có hàng thừa kế thứ nhất là bà Lê Thị H2, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn S); và đồng ý nhận số tiền 5.000.000 đồng của ông T, bà H.
- Theo đơn phản tố, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Văn T cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị H trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ ông Nguyễn Văn T là ông Nguyễn Văn N1 và bà Võ Thị B2. Năm 2003, ông N1 và bà B2 có cố cho ông Trần Văn P với diện tích đất 500m², qua đo đạc thực tế có diện tích 806,3m², thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, với số tiền cố đất là 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Việc cố đất chỉ thỏa thuận miệng nhưng có người chứng kiến là ông Nguyễn Văn L3 và ông Nguyễn Thái S1. Ông P đã nhận đất sử dụng từ năm 2003. Sau khi ông N1 mất, khoảng năm 2006 – 2007, bà B2 chuộc lại đất nhưng ông P không cho. Sau này, ông T, bà H nhiều lần yêu cầu ông P được chuộc lại đất nhưng ông vẫn không cho. Sự việc đến năm 2019, ông T, bà H bức xúc ngăn cản ông P xuống lúa giống và ông bà cũng đã lấy lại phần đất này để canh tác.
Ông P trình bày phần đất tranh chấp 806,3m² là ông N1 chuyển nhượng cho ông P vào năm 2003 và nằm ngoài diện tích đất ông N1 chuyển nhượng cho ông P năm 2001 với diện tích 11.000m² là không đúng. Vì phần đất 806,3m² là đất cố, còn diện tích ông N1 chuyển nhượng cho ông P 11.000m² đất lúa 02 lần vào năm 2001, trong đó lần 1 là 10.000m², lần 2 là 1.000m² thì hiện nay ông P cũng đã được sử dụng diện tích đất 11.000m² này, đồng thời, diện tích đất này nằm ngoài và giáp ranh với phần đất tranh chấp.
Theo đơn phản tố và tại phiên hòa giải, ông T và bà H yêu cầu ông P trả lại cho ông bà quyền sử dụng diện tích đất qua đo đạc thực tế 806,3m² trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M1, thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc của Công ty TNHH D2.
Tại phiên tòa, ông T thống nhất với sự tự nguyện của ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 trả lại phần diện tích đất 806,3m² cho người thừa kế của ông N1, bà B2 gồm bà M, bà T1, ông T, bà L2, bà C, bà D1, ông T2, bà Y, ông H1 (ông H1 có hàng thừa kế thứ nhất là bà H2, anh Đ, anh S1).
Bà H rút yêu cầu ông P trả cho bà quyền sử dụng đất diện tích 806,3m².
Ông T và bà H đồng ý tự nguyện trả cho ông P số tiền cố đất là 5.000.000 đồng.
- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, anh Ở, anh L có người đại diện hợp pháp là ông T, bà H trình bày: Thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông T, bà H.
- Quá trình tố tụng, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N1, bà B2 gồm bà T1, bà L2, bà C, ông T2, bà Y; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà T1, bà L2, bà C, ông T2, bà Y có người đại diện hợp pháp là ông T, bà H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N1, bà B2 là bà M, bà D1 trình bày: Phần đất tranh chấp 806,3m² thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là tài sản của cha mẹ là ông N1, bà B2. Bà T1, bà L2, bà C, ông T2, bà Y, bà M, bà D1 không tranh chấp quyền sử dụng đất, không yêu cầu chia di sản thừa kế, thống nhất ông T, bà H được nhận di sản này của ông N1, bà B2.
- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N1, bà B2 là ông T trình bày: Phần đất tranh chấp 806,3m² thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là tài sản của cha mẹ là ông N1, bà B2. Thống nhất ông P trả lại phần diện tích đất 806,3m² cho hàng thừa kế thứ nhất của ông N1, bà B2. Đồng ý tự nguyện cùng bà H trả cho ông P tiền cố đất là 5.000.000 đồng.
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H1 là bà H2, anh Đ trình bày: Phần đất tranh chấp 806,3m² thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là tài sản của ông N1, bà B2. Bà H2, anh Đ không tranh chấp quyền sử dụng đất, không yêu cầu chia di sản thừa kế, thống nhất ông T, bà H được nhận di sản này của ông N1, bà B2.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T có người đại diện hợp pháp là ông Võ Thành N2 trình bày: Đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã B có người đại diện hợp pháp là ông Phạm Phước V3 trình bày: Đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị L1, Trần Hồ Huỳnh N, Trần Hồ Gia B1 (Huỳnh N, Gia B1 có người đại diện hợp pháp là anh Trần Phước V1, chị Hồ Thị L1); người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H1 là anh Nguyễn Văn S; đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, yêu cầu phản tố của ông T, yêu cầu độc lập của bà H, đồng thời đều vắng mặt không có lý do.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử của Thẩm phán, Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: Thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Đương sự Hồ Thị L1, Nguyễn Văn S chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như đã được Tòa án triệu tập nhưng không có văn bản ý kiến trình bày, vắng mặt không có lý do.
Việc giải quyết vụ án: Ghi nhận sự tự nguyện của ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 trả lại cho người thừa kế của ông N1, bà B2 diện tích đất tranh chấp 806,3m², thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T, bà H trả cho ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 số tiền 5.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối tượng tranh chấp là diện tích đất thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đương sự gồm chị Hồ Thị L1, anh Nguyễn Văn S được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L1, anh S theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 đồng ý giao trả lại diện tích đất 806,3m², thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho người thừa kế của ông N1, bà B2 là bà M, bà T1, ông T, bà L2, bà C, bà D1, ông T2, bà Y, ông H1 (ông H1 có hàng thừa kế thứ nhất là bà H2, anh Đ, anh S); và đồng ý nhận số tiền 5.000.000 đồng của ông T, bà H.
- Ông T thống nhất với sự tự nguyện của ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 trả lại phần diện tích đất 806,3m² cho người thừa kế của ông N1, bà B2 gồm bà M, bà T1, ông T, bà L2, bà C, bà D1, ông T2, bà Y, ông H1 (ông H1 có hàng thừa kế thứ nhất là bà H2, anh Đ, anh S).
- Ông T và bà H đồng ý tự nguyện trả cho ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 số tiền cố đất là 5.000.000 đồng.
- Bà H rút yêu cầu ông P trả cho bà quyền sử dụng đất diện tích 806,3m², thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
[2.1] Các đương sự thừa nhận nguồn gốc diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là của Nguyễn Văn N1. Vợ ông N1 là bà Võ Thị B2.
Vào năm 1993, ông N1 lập thủ tục đăng ký quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất theo quy định, đất thuộc thửa 407, tờ bản đồ số 3, diện tích 12.870m², tọa lạc xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nhưng ông N1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 15/01/2002, ông N1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 2641 (cắt từ thửa 407), tờ bản đồ số 3, diện tích 10.000m² cho ông P. Ngày 28/01/2002, hộ ông P1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 2641, tờ bản đồ số 3, diện tích 10.000m², được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC860797, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH05797 ngày 24/12/2015 thành thửa 883, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.939,7m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC860798, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH05798 ngày 24/12/2015 thành thửa 945, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.074,4m², tổng diện tích được cấp đổi là 11.014,1m².
Ngày 12/5/2003, ông N1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 2676 (cắt từ thửa 407), tờ bản đồ số 3, diện tích 1.000m² cho ông Trần Văn P. Tại giấy trích lục khai tử ngày 22/10/2021 thì ông N1 chết vào ngày 22/3/2003. Ông P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng ông N1 còn sống.
Ngày 16/6/2003, ông P lập thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất thửa 2676, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.000m² theo quy định. Ngày 24/6/2003, hộ ông P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X211740 đối với thửa 2676, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.000m², được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC860795, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH05795 ngày 24/12/2015 thành thửa 984, tờ bản đồ số 6, diện tích 806,3m².
Tại văn bản số 802/UBND-NC ngày 11/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T thì việc cấp giấy chứng nhận thửa 2676 cho hộ ông P năm 2003 không có đo đạc thực tế và việc cấp giấy chứng nhận thửa 984 (cấp đổi từ thửa 2676) có phiếu xác nhận kết quả đo đạc thực tế. Tuy nhiên, qua xem xét trên phiếu xác nhận thì không có chữ ký tên của người giáp ranh.
Tại văn bản số 1387/UBND-NC ngày 11/11/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T thì việc cấp giấy chứng nhận thửa 2676, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.000m² do hộ ông P đứng tên, cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy thành thửa 984, tờ bản đồ số 6 thì có diện tích 806,3m² do ranh giới quyền sử dụng đất không thay đổi so với ranh giới tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với người sử dụng đất liền kề hoặc cấp đổi giấy chứng nhận được xác định theo số liệu đo đạc thực tế, còn việc có sự thay đổi hiện trạng thửa đất thì theo kết quả đo đạc thẩm định tại chỗ của Tòa án. Đồng thời, đối với việc cấp giấy chứng nhận thửa 2641, tờ bản đồ số 3, diện tích 10.000m² ngày 28/01/2002 do hộ ông P đứng tên thì khi cấp không có đo đạc thực tế.
Qua lấy lời khai người làm chứng Nguyễn Văn L3, ông L3 xác định phần đất thuộc thửa 2676, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.000m² là bà B2 cầm cố cho ông P với giá là 5.000.000 đồng để chi phí điều trị bệnh cho ông N1.
Mặt khác, việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N1 cho ông P theo trình bày của ông P tổng cộng 02 lần diện tích là 11.000m². Xét thấy, khi cấp đổi giấy chứng nhận thửa 2641 cho hộ ông P năm 2015 thì diện tích được cấp từ 10.000m² lên thành 11.014,1m².
Từ những phân tích trên xét thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 3, diện tích 806,3m² cấp cho hộ ông P là chưa phù hợp theo quy định.
Tại văn bản số 139/CAH-HC ngày 23/11/2022 của Công an huyện T thì thời điểm ngày 24/6/2003 và 24/12/2015, hộ ông P gồm các thành viên là ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2.
Tại phiên tòa, ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 và ông T, bà H thống nhất ông T, bà H tự nguyện trả cho ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 tiền cố đất là 5.000.000 đồng và ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 giao lại quyền sử dụng diện tích đất 806,3m² cho người thừa kế của ông N1, bà B2. Ông N1, bà B2 có 10 người con trong đó có 01 người con đã chết khi còn nhỏ, còn lại 09 người con gồm bà M, bà T1, ông T, bà L2, bà C, bà D1, ông T2, bà Y, ông H1. Ông H1 đã chết có hàng thừa kế thứ nhất là bà H2, anh Đ, anh S, đối với anh S không có văn bản ý kiến gửi nộp cho Tòa án và đều vắng mặt không có lý do.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của ông P; chấp nhận một phần yêu cầu của ông T. Ông T, bà H tự nguyện trả cho ông P, bà B, anh D, anh V1, anh V2 số tiền 5.000.000 đồng, xét thấy đây là sự tự nguyện và phù hợp nên chấp nhận.
[2.2] Về tài sản trên đất: Hiện phần đất tranh chấp do ông T, bà H canh tác lúa, các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trường hợp có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác.
[2.3] Về yêu cầu của bà H là yêu cầu ông P trả cho bà H và ông T quyền sử dụng đất diện tích 806,3m². Do bà H rút yêu cầu nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của bà.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Do chấp nhận một phần yêu cầu của ông P, chấp nhận một phần yêu cầu của ông T, và ông T, bà H tự nguyện có trách nhiệm trả tiền; nên ông P, ông T, bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Ông T, bà H tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.300.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 400.000 đồng, tổng cộng là 2.700.000 đồng. Số tiền này ông P đã nộp tạm ứng và chi xong nên ông T, bà H nộp để trả lại cho ông P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, Điều 228, các Điều 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 163, 164, 166, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 26 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
- - Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị H.
- Ông Trần Văn P, bà Trần Thị B, anh Trần Tuyến D, anh Trần Phước V1, anh Trần Tuyến V2 đồng ý giao cho người thừa kế của ông Nguyễn Văn N1 và bà Võ Thị B2 gồm bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị D1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Văn H1 (hàng thừa kế thứ nhất của ông H1 là bà Lê Thị H2, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn S) diện tích đất theo đo đạc thực tế là 806,3m² thuộc thửa đất số 984, tờ bản đồ số 6, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, trong phạm vi các mốc M1 – M2 – M3 - M4 – M5 – M1 theo Sơ đồ đo đạc ngày 13/01/2023 của Công ty TNHH D2.
- Ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị H đồng ý trả cho ông Trần Văn P, bà Trần Thị B, anh Trần Tuyến D, anh Trần Phước V1 và anh Trần Tuyến V2 số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC860795, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH05795, diện tích 806,3m², thuộc thửa 984, tờ bản đồ số 6, loại đất chuyên trồng lúa nước, tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn P ngày 24/12/2015 để cấp lại cho bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị D1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Văn H1 (hàng thừa kế thứ nhất của ông H1 là bà Lê Thị H2, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn S) theo sự tự nguyện nêu trên.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị H về yêu cầu ông Trần Văn P trả lại diện tích 806,3m² thuộc thửa đất số 984, tờ bản đồ số 6, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, trong phạm vi các mốc M1 – M2 – M3 - M4 – M5 – M1 theo Sơ đồ đo đạc ngày 13/01/2023 của Công ty TNHH D2.
- Về án phí:
- Về chi phí tố tụng:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan thẩm quyền để điều chỉnh, kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải chịu nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật (nếu có).
(Kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình và Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 13/01/2023 của Công ty TNHH D2 kèm theo).
Ông Trần Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010142 ngày 06/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Nguyễn Văn T, bà Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006527 ngày 10/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Nguyễn Văn T, bà Bùi Thị H tự nguyện nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 2.700.000 (Hai triệu bảy trăm nghìn) đồng để hoàn trả lại cho ông Trần Văn P.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Nữ |
Bản án số 109/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Số bản án: 109/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TRẦN VĂN P - NGUYỄN VĂN T
