|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HS-ST
Ngày 12 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Khanh và ông Đỗ Trọng Thực
Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST - HS ngày 12/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST - HS ngày 29/8/2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn N, sinh năm 1998
Nơi sinh, cư trú: Xóm R, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Đinh Thị H; vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo N bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023, tạm giam từ ngày 27/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Đình O, sinh năm 1978
Nơi sinh, cư trú: Bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị V (đã chết); vợ: Bùi Thị N1 (đã ly hôn); con: Có 02 con, con nhỏ sinh năm 2009, con lớn sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo O bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023, tạm giam từ ngày 28/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Lường Văn T, sinh năm 2001
Nơi sinh, cư trú: Bản Chế Hạng, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn P (đã chết) và bà Lò Thị H1; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo T bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023, tạm giam từ ngày 28/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn T: Bà Vương Thị Thanh N2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1998 ở xóm R, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ là người nghiện ma túy, (loại Heroin) và không có nghề nghiệp nên đã thuê trọ tại khu nhà trọ của gia đình ông Phạm Văn H2 ở thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên ở và mua ma túy về chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện khác để thu lời bất chính. Khoảng tháng 10/2023, Lường Văn T, sinh năm 2001 ở bản C, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu và Nguyễn Đình O, sinh năm 1978 ở bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đều là người nghiện ma túy. Do không có nghề nghiệp, không có ma túy sử dụng và không có tiền chi tiêu sinh hoạt hàng ngày nên T và O đã nhận bán ma túy cho N để được N cho sử dụng ma túy, cho ăn, cho ở cùng.
Đến ngày 15/12/2023, Nguyễn Văn N thấy Công an huyện V tuyên truyền mở đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự xuân Giáp Thìn nên sáng ngày 16/12/2023 N đã thuê phòng 101 nhà nghỉ M1 ở thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên mục đích để N, T và O ở và sử dụng ma túy.
Sáng ngày 16/12/2023 N một mình đi ô tô khách đến khu vực cầu P, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ để mua ma túy về sử dụng và cùng T, O bán lại cho những đối tượng nghiện khác. N gặp và mua 1.500.000 đồng ma túy của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ thì được 01 túi nilon ma túy, (loại Heroin) và 02 viên ma túy tổng hợp. Sau khi mua được ma túy, N cất vào túi quần rồi bắt xe khách về nhà nghỉ M1. Khi về đến phòng trọ, N đưa cho T 150.000 đồng để đi mua cơm và nước uống. T mua 03 xuất cơm hộp, 03 hộp sữa đậu lành, 01 lon bò húc, 01 chai nước Sting và 02 bật lửa ga màu đỏ mang về phòng 101 để cả ba cùng ăn, uống. Sau khi ăn, uống xong thì N bỏ số ma tuý mua được ra giường rồi cùng nhau chế bộ dụng cụ để tổ chức cho nhau sử dụng ma tuý. O lấy bật lửa ga màu đỏ T vừa mua về hơ thủng 01 lỗ nhỏ của lắp chai nước Sting rồi gắn ống hút bằng nhựa lấy từ hộp sữa đậu lành vào chai Sting. T lấy kéo đục 01 lỗ thủng ở thân chai nước Sting và dùng tờ tiền 10.000 đồng cuộn thành ống hút để xúc ma tuý. N dùng kéo cắt lấy 01 mảnh kim loại từ vỏ lon bò húc, cuộn lại gắn vào một đầu của ống hút bằng nhựa, còn một đầu của ống hút được gắn vào thân chai nước Sting rồi cắt 05 mảnh giấy bạc lấy từ vỏ bao thuốc lá Thăng L1 và lấy tờ tiền 20.000 đồng cuộn thành ống hút để xúc ma tuý. Sau đó N lấy một ít ma túy từ túi nilon và 01 viên ma túy tổng hợp (ngựa hồng) để lên mảnh giấy bạc, sau đó dùng bật lửa ga hơ phía dưới mảnh giấy bạc để sử dụng trước. Rồi lần lượt đưa cho T và O cùng sử dụng. Do O đã chích ma tuý nhiều năm nên khi O hít 02 – 03 hơi ma tuý thì cảm thấy nhạt (tức là không phê) nên O sử dụng xi lanh gắn kim tiêm để chích ma tuý vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy cả ba nằm chơi và ngủ tại phòng 101. Số ma tuý còn lại N để trên giường trong phòng trọ (T và O đều biết) mục đích tiếp tục cùng T, O bán cho những đối tượng nghiện khác. Tối ngày 17/12/2023, N bảo với T, O chiều ngày 18/12/2023 sẽ trả phòng 101 nhà nghỉ M1 2 rồi cùng đi về phòng trọ tại thôn A, xã N, huyện V để bán số ma tuý còn lại thì T, O đồng ý. Sáng ngày 18/12/2023, N mang số ma tuý, (loại Heroin) còn lại trên giường rồi cùng T chia ma tuý thành nhiều gói nhỏ để bán cho những đối tượng nghiện khác.
Đến 09 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, khi N và T đang chuẩn bị sử dụng ma tuý còn O đang ngủ thì bị Tổ công tác của Công an xã T kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: T1 tại giường Nguyễn Văn N, Lường Văn T đang ngồi có: 01 túi nilon màu trắng, miệng túi viền đỏ bên trong có 05 gói nilon màu đỏ đều chứa chất màu trắng dạng bột và cục; 01 túi nilon màu trắng, miệng túi viền đỏ chứa chất màu trắng dạng bột và cục (được niêm phong ký hiệu M1); 02 mảnh giấy bạc bị cháy xám ở giữa, trong đó có 01 mảnh giấy bạc bám dính chất màu đỏ - nâu; 05 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong các túi đều bám dính chất màu trắng – đỏ, (được niêm phong ký hiệu M2); 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 dao tem; 01 kéo bằng kim loại; 01 ống cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng dài 11 cm, được cố định bằng băng dính màu đen; 01 ống cuộn bằng mảnh của tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, dài 06 cm được cố định bằng băng dính màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, lắp sim số 0963230313, 01 ví giả da bên trong có 1.070.000 đồng của Nguyễn Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Kingreat S50 màu xanh đen, không có sim của Lường Văn T; T1 tại giường Nguyễn Đình O đang nằm có: 01 xi lanh gắn kim tiêm, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen, lắp sim số 0393235645 của Nguyễn Đình O. T1 tại nền phòng 101 có: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế bằng vỏ chai nước Sting bằng nhựa gắn 01 ống hút bằng nhựa màu trắng tại phần nắp chai, trên thân vỏ chai nước S1 có đục 01 lỗ thủng để gắn 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, một đầu ống hút bằng nhựa màu trắng được gắn 01 mảnh kim loại cắt từ vỏ lon nước bò húc, bên trong vỏ chai có chứa nước.
Các đồ vật đã thu nêu trên gồm: 01 dao tem; 01 kéo bằng kim loại; 01 ống cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng; 01 ống cuộn bằng mảnh của tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 xi lanh gắn kim tiêm, đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế Cơ quan CSĐT đã niêm phong ký hiệu M3.
Sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn N, Nguyễn Đình O và Lường Văn T tại thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên: Thu 01 cân tiểu ly màu bạc (được niêm phong ký hiệu M4). Kết quả xét nghiệm ma tuý đối với: N, O và T xác định đều dương tính với ma túy, loại Heroine, M và A.
Bản thông báo kết luận giám định số 61 ngày 18/12/2023 và Kết luận giám định số 61 ngày 21/12/2023 của phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1, có tổng khối lượng 1,259g là ma túy, loại Heroin; Chất màu đỏ - nâu bám dính trên tờ giấy bạc trong niêm phong ký hiệu M2, không xác định được khối lượng là ma túy, loại Methanphetamine, H3; Chất màu đỏ - nâu bám dính trong 05 túi nilon trong niêm phong ký hiệu M2, không xác định được khối lượng là ma túy, loại Methanphetamine, H3.
Kết luận giám định số 138 ngày 01/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện dấu vết chất ma túy trên dao tem, kéo, 02 ống hút polime, 01 xi lanh kim tiêm, 01 vỏ chai và 02 đoạn ống nhựa cùng 1 mảnh kim loại gắn kèm trong niêm phong M3. Không phát hiện dấu vết chất ma túy trên cân tiểu ly trong niêm phong M4. H4 lại mẫu gửi giám định gồm 01 dao tem, 01 kéo, 02 ống hút polime, 01 xi lanh kim tiêm, 01 vỏ chai, 02 đoạn ống hút nhựa cùng 01 mảnh kim loại gắn kèm, 01 cân tiểu ly, 01 vỏ phong bì đựng mẫu vật. Tất cả được niêm phong ghi số 138/KL – KTHS (MT).
Đối với một số vật chứng khác đã thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 của Nguyễn Văn N, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen của Nguyễn Đình O và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Kingreat S50 màu xanh đen của Lường Văn T. Quá trình điều tra, xác định N, O sử dụng 02 chiếc điện thoại này để mua bán trái phép chất ma tuý, còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Kingreat S50 màu xanh đen của T không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã nhập 03 chiếc điện thoại nêu trên, 01 bật lửa ga màu đỏ và 02 niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 349/KL- KTHS(MT) và số 138/KL - KTHS của phòng K Công an tỉnh H vào Kho vật chứng thuộc Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 1.070.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn N. Quá trình điều tra xác định số tiền này do Ngọc bán trái phép chất ma túy mà có nên Cơ quan điều tra đã nhập vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện V tại Kho bạc Nhà nước V2 để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ N khai bán ma túy cho N tại khu vực huyện T, tỉnh Phú Thọ Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã có công văn trao đổi với Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra còn xác định tại nhà nghỉ M1 ở thôn T, xã T, huyện V, ngày 16/12/2023 T đã 3 lần sử dụng trái phép chất ma tuý, O sử dụng 2 lần; ngày 17/12/2023 T và O mỗi người sử dụng trái phép chất ma tuý 2 lần. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N, T và O.
Đối với ông Phạm Văn H2 chủ nhà trọ thôn A, xã N, huyện V và bà Đỗ Thị V1 chủ nhà nghỉ M1 đã cho N thuê trọ và thuê nhà nghỉ nhưng không biết N, T và O sử dụng vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.
Nguyễn Văn N, Lường Văn T và Nguyễn Đình O đều đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu ở trên. Lời khai của các bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án
Tại bản cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Văn N, Lường Văn T, Nguyễn Đình O đều về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Văn N, Lường Văn T, Nguyễn Đình O đều phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Đình O, Lường Văn T.
Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lường Văn T.
Xử phạt: Nguyễn Văn N từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
Xử phạt: Nguyễn Đình O từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
Xử phạt: Lường Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu phát mại lấy tiền sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.070.000 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 61/KL-KTHS(MT); 01 niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 138/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ví giả da màu đen; 02 sim điện thoại kèm theo trong các điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng và Nokia 1280 màu xanh.
- - Trả lại bị cáo Lường Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Kingreat S50 màu xanh đen không có sim.
Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Đình O mỗi bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định pháp luật. Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Lường Văn T.
Người bào chữa cho bị cáo T: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ cận nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện V và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâmvà kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản vụ việc, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/12/2023 tại phòng 101 do Nguyễn Văn N thuê tại nhà nghỉ M1 thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn N đã cung cấp ma túy và cùng Lường Văn T, Nguyễn Đình O chuẩn bị bộ dụng cụ rồi cả ba cùng nhau tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy (loại Heroin). Ngoài ra cũng tại phòng nghỉ trên N, T và O còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,259g ma túy, loại heroin với mục đích tiếp tục bán cho các đối tượng nghiện đến 08 giờ 45 phút ngày 18/12/2024 đã bị công an xã T phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn N, Lường Văn T, Nguyễn Đình O phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không làm chủ bản thân nên đã mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức để bản thân các bị cáo và người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ và phá vỡ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Tệ nạn ma tuý là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác,
một số tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng có nguồn gốc phát sinh từ tệ nạn ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.
Trong vụ án, ở hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có đồng phạm tham gia thực hiện tội phạm, nhưng tính chất đồng phạm giản đơn, vai trò các bị cáo trong vụ án như sau.
Nguyễn Văn N giữ vai trò đầu, bị cáo là người chủ mưu, bị cáo cho T và O ăn, ở và cho sử dụng ma túy cùng bị cáo để O và T nhận bán ma túy cho N, N cung cấp địa điểm, cung cấp ma túy, chế tạo công cụ và chế biến ma túy để bị cáo cùng T, O cùng nhau sử dụng. Nguyễn Đình O và Lường Văn T giữ vai trò thực hành, giúp sức tích cực, các bị cáo nhận bán ma túy cho N để được N cho ăn, ở và sử dụng ma túy cùng, O và T tích cực chuẩn bị bật lửa, chế tạo dụng cụ để cùng nhau sử dụng ma túy. Bị cáo N và bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo O có nhân thân xấu, năm 2013 bị Toa án nhân dân thành phố S xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, trở thành công dân có ích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy hình phạt đối với bị cáo N và O ngang nhau và cao hơn bị cáo T.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xét đến quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả ba bị cáo; Bị cáo Tân sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 61/KL-KTHS(MT) và 01 niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 138/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H là vật chứng của vụ án, gồm ma túy và các công cụ để các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy và mua bán ma túy nên tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với 01 bật lửa ga màu đỏ là vật chứng của vụ án, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu cho tiêu hủy
- Đối với 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng thu giữ của N, không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo không nhận lại chiếc ví này, giá trị không lớn nên tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng lắp sim số 0963230313 thu giữ của N, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh lắp sim số 0393235645 thu giữ của O, là vật chứng của vụ án, các bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy nên tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 02 chiếc điện thoại nêu trên, đối với 02 sim lắp trong 02 chiếc điện thoại sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với số tiền 1.070.000 đồng (một triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ trong ví của N, do bị cáo mua bán trái phép chất ma túy mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền này.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Kingreat S50 màu xanh đen không có sim thu giữ của T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo để sử dụng.
[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Đình O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Lường Văn Tân sinh S2 ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Đình O, Lường Văn T đều phạm các tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và "Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Đình O, Lường Văn T.
Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lường Văn T.
[3]. Xử phạt: Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
Xử phạt: Nguyễn Đình O 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
Xử phạt: Lường Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
[3] Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu phát mại lấy tiền sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.070.000 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 61/KL-KTHS(MT); 01 niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 138/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ví giả da màu đen; 02 sim điện thoại kèm theo trong các điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng và Nokia 1280 màu xanh.
- - Trả lại bị cáo Lường Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Kingreat S50 màu xanh đen không có sim.
(Đặc điểm vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 99/QĐ-VKS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên)
[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Đình O mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự. Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Lường Văn T.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Mười |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Ngọc và đồng phạm
