Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày 21/06/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.

Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồ Cảnh.

Ông Trần Xuân Thành.

Ông Trần Mai Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt, Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Việt Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 21/6/2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 27/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 06/6/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Văn Đ. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/7/1974 tại huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn S và bà Hoàng Thị T; có vợ: Lộc Thị L và 03 người con.

Tiền án:

  • - Ngày 22/4/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 21/11/2013;
  • - Ngày 09/6/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 25/10/2022.

Nhân thân: Ngày 24/02/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 7 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/4/2000 (đặc xá).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

2. Họ và tên: Lương Văn H. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/8/1979 tại huyện K, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú và chỗ ở: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn C và bà Vi Thị C1; có vợ Lương Thị Ỏ và 03 người con. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 03/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong ngày 20/8/2022.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn Đ: Ông Nguyễn Văn T1. Công ty L2 – Đoàn luật sư tỉnh N.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn H: Bà Phan Thị S1. Văn phòng luật sư Dung S2 và Cộng sự – Đoàn luật sư tỉnh N.
  • - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Lộc Thị L, sinh năm 1981. Nơi cư trú: bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h40' ngày 14/9/2023, tại khu vực K Quốc lộ G thuộc xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N chủ trì, phối hợp lực lượng chức năng phát hiện Vũ Văn Đ (sinh năm 1974; trú tại: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An) điều khiển xe máy biển kiểm soát 37K1-119.94, tại giá để hàng phía trước xe máy đang để 1 ba lô màu đen, bên trong có 96 gói ni lông màu xanh và 24 gói ni lông màu hồng, trong tất cả các gói ni lông này đều chứa viên nén màu hồng, trên bề mặt các viên nén có chữ WY (nghi là ma túy). Vũ Văn Đ khai nhận tất cả số viên nén bị phát hiện là ma túy của Đảng mua ở huyện K, tỉnh Nghệ An, đang trên đường vận chuyển đi bán để kiếm lời thì bị bắt giữ và khai trước thời điểm bị bắt, người đi cùng Đ để mua ma túy là Lương Văn H (sinh năm 1979; trú tại: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An).

Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh N đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Lương Văn H. Quá trình khám xét, đã thu giữ tại bể nước sau nhà H 1 bao potylen màu xanh bên trong chứa các viên nén màu đỏ (nghi là ma túy), Lương Văn H khai nhận đây là số ma túy H cất dấu để sử dụng.

Kết luận giám định số 943/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 22/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu đỏ (ký hiệu M1) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở Lương Văn H là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu đỏ thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở Lương Văn H có tổng khối lượng là 15,36 gam.

Kết luận giám định số 938/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 120 mẫu viên nén màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên có in chữ WY (ký hiệu từ M1 đến M120) thu giữ khi bắt quả tang Vũ Văn Đ gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên có in chữ WY thu giữ khi bắt quả tang Vũ Văn Đ có tổng khối lượng là 2.252,09 gam.

Quá trình điều tra, hành vi phạm tội của các bị các đã được làm rõ:

Năm 2021, Vũ Văn Đ chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ1, tỉnh Quảng Bình. Tại đây, Đ quen biết người đàn ông tên T2 đang cùng thi hành án. Sau khi chấp hành án xong, cả hai vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Ngày 08/9/2023, T2 sử dụng số điện thoại 0879.322.xxx gọi vào số 0869697025 của Đảng đặt mua ma túy Hồng phiến với số lượng lớn để mang về tỉnh Quảng Bình bán kiếm lời và Đ đồng ý. Đảng liên lạc với một người đàn ông, thường gọi là Sô L1 (sống ở Lào, không biết lai lịch cụ thể, sử dụng số điện thoại 0582.737.xxx) đặt mua 04 bịch ma túy Hồng phiến (mỗi bịch 30 gói, tổng cộng là 120 gói) với giá 25.000.000 đồng/1 bịch. Đảng và Sô L1 thống nhất sẽ trả trước số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại sau khi bán được ma túy sẽ trả.

Ngày 14/9/2023, Sô L1 gọi điện báo cho Đảng biết đã có ma túy, hẹn giao nhận tại khu vực rừng núi thuộc bản Cánh, xã T, huyện K, tỉnh Nghệ An. Khoảng 16h ngày 14/9/2023, Đ gọi điện cho Lương Văn H rủ cùng đi nhận ma túy, hứa khi bán được ma túy sẽ cho H ít tiền để tiêu xài và H đồng ý. Đến 17h cùng ngày, Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát 37K1-119.94 đến bản K, xã C, huyện K đón H rồi cả hai đi đến điểm hẹn. Đảng đưa cho H 50.000.000 đồng, hướng dẫn H giấu tiền tại bụi cây gần cống thoát nước, sẽ có người đến lấy và để lại ma túy sau đó Đ điều khiển xe máy quay về thị trấn M, huyện K để chờ. H làm theo hướng dẫn của Đ rồi đứng cách chỗ giấu tiền khoảng 20m. Khoảng 45 phút sau, có một người đàn ông đến lấy tiền và để lại ma túy. H đến kiểm tra thấy có 01 gói ni lông màu đen lớn đựng ma túy, bên cạnh có 01 gói ni lông màu xanh nhỏ chứa ma túy, H cầm gói ni lông màu xanh nhỏ chứa ma túy cất vào túi quần đang mặc với mục đích về sử dụng, không nói cho Đảng biết sau đó gọi điện cho Đ đến đón. Khi đến, Đảng lấy gói ni lông màu đen chứa ma túy bỏ vào chiếc ba lô mang theo rồi nói H điều khiển xe chở mình quay về. Khi về cách nhà H khoảng 200 m thì H dừng xe, đi bộ về nhà còn Đ bỏ chiếc ba lô có chứa ma túy trước giá đèo hàng của xe máy và tiếp tục đi theo hướng về huyện C, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 23h40' phút ngày 14/9/2023, khi Đ điều khiển xe máy mang theo số ma túy đã mua đi về đến khu vực Km109 Quốc lộ G thuộc xã C, huyện C thì bị phát hiện bắt giữ.

Lương Văn H cầm gói ma túy trong bao ni lông màu xanh đã cất dấu trước đó về nhà, lấy một ít ra sử dụng, số còn lại H mang cất giấu trên bể nước sau nhà nhằm mục đích để sử dụng dần và bị khám xét khẩn cấp, thu giữ.

Vật chứng vụ án: 2.252,09 gam ma túy Methamphetamine thu giữ khi bắt quả tang Vũ Văn Đ, đã lấy 271,76 gam sử dụng làm mẫu giám định, còn lại 1980,33 gam; 15,36 gam ma túy Methamphetamine thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Văn H, đã lấy 2,02 gam sử dụng làm mẫu giám định, còn lại 13,34 gam; 1 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng, màu đen, số imei 357705102200071; 1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 đã qua sử dụng, màu đen, số imei 862366051724716; 1 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave đã qua sử dụng, biển kiểm soát 37K1- 119.94, số máy JA39E0448367, số khung 3904HY473225 được niêm phong bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 117/CT-VKSNA-P1 ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Vũ Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Lương Văn H về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận hành vi như cáo trạng truy tố; các bị cáo trình bày gia đình có người có công với cách mạng nhưng các tài liệu bị thất lạc, không có để cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng; đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên cáo trạng và phát biểu quan điểm: việc truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật; căn cứ các tình tiết vụ án; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo, đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo như sau: xử phạt Vũ Văn Đ tử hình về tội Mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt Lương Văn H tù chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 07 – 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có tranh luận gì.

Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo, không áp dụng hình phạt tử hình đối với Vũ Văn Đ; đối với Lương Văn H phạm tội chỉ vì nghe theo lời dụ dỗ của Vũ Văn Đ, trình độ nhận thức hạn chế, bị cáo là người dân tộc.

Nói lời sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội của bị cáo.

[1.1] Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Do hám lợi, Vũ Văn Đ liên lạc với người đàn ông tên Sô L1 đặt mua 04 bịch ma túy ma túy Methamphetamine với giá 100.000.000 đồng để bán lại cho người khác kiếm lời, thỏa thuận sẽ trả trước số tiền 50.000.000 đồng.

Ngày 14/9/2023, Sô L1 gọi điện báo cho Đảng biết đã có ma túy, Đ gọi điện cho Lương Văn H rủ cùng đi nhận ma túy, hứa khi bán được ma túy sẽ cho H ít tiền để tiêu xài. Đến 17h cùng ngày, Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát 37K1- 119.94 đến đón H rồi cả hai đi đến khu vực rừng núi thuộc bản C, xã T, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đảng đưa cho H 50.000.000đ, hướng dẫn H giấu tiền tại bụi cây gần cống thoát nước, sẽ có người đến lấy và để lại ma túy sau đó Đ điều khiển xe máy quay về thị trấn M, huyện K để chờ. H làm theo hướng dẫn của Đảng, khoảng 45 phút sau có người đến lấy tiền và để lại 02 gói ma túy Methamphetamine, trong đó 01 gói khối lượng 2.252,09 gam và 01 gói khối lượng 15,36 gam. H đến kiểm tra, lấy gói ma túy khối lượng 15,36 gam cất vào túi quần đang mặc với mục đích để sử dụng, không nói cho Đảng biết sau đó gọi điện cho Đ đến đón. Đảng quay vào đón H, lấy gói ma túy khối lượng 2.252,09 gam bỏ vào chiếc ba lô mang theo rồi H điều khiển xe máy chở Đảng quay về. Khi cách nhà H khoảng 200 mét thì H dừng xe, mang 15,36 gam ma túy Methamphetamine về cất giấu trên bể nước sau nhà nhằm mục đích để sử dụng dần; Đảng tiếp tục điều khiển xe máy chở theo 2.252,09 gam ma túy Methamphetamine đi về đến khu vực K Quốc lộ G thuộc xã C, huyện C thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vũ Văn Đ đã mua ma túy để bán kiếm lợi, Lương Văn H đã giúp sức cho Vũ Văn Đ đi lấy ma túy là đồng phạm với Vũ Văn Đ, là hành vi mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 2.252,09 gam ma túy (Methamphetamine). Về hành vi cất dấu ma túy để sử dụng, Lương Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 15,36 gam ma túy (Methamphetamin). Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Vũ Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Lương Văn H về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất hành vi phạm tội:

[2.1] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận gia đình có công với cách mạng, nhưng suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa không cung cấp được tài liệu chứng minh; đối với Lương Văn H, đã từng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do đó hoàn toàn biết tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm, do đó không có căn cứ xác định bị cáo thiếu hiểu biết quy định xử lý của pháp luật về ma túy – Không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Văn Đ, ngày 22/4/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 21/11/2013; ngày 09/6/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 25/10/2022. Căn cứ Điều 53 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội lần này là thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Lương Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Trong tình hình hiện nay ma túy là hiểm họa của toàn nhân loại, làm suy thoái giống nòi, suy đồi đạo đức, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xã hội. Các bị cáo biết việc mua bán ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý nghiêm nhưng vẫn thực hiện. Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, khối lượng ma túy bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán là rất lớn, nếu không bị phát hiện, ngăn chặn kịp thời sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, đối với Vũ Văn Đ phải chịu vai trò chính trong vụ án, phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe tội phạm và phòng ngừa chung trong xã hội. Đối với Lương Văn H, vai trò đồng phạm thứ yếu vì vậy xử phạt mức án thấp hơn Vũ Văn Đ, nhưng cần cách ly bị cáo một thời gian dài để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, góp phần răn đe, ngăn chặn và phòng ngừa hiểm họa ma túy.

Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lương Văn H: bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng không sửa chữa sai lầm, tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng, vì vậy cần xử phạt nghiêm, đồng thời tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[3] Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Về vật chứng vụ án: Ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành và một số vật chứng không có giá sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Các điện thoại của các bị cáo sử dụng vào mục đích thực hiện tội phạm, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc xe máy của chị Lộc Thị L, được chị mua khi bị cáo đang ở tù, khi bị cáo lấy để sử dụng đi mua ma túy, chị L không biết, vì vậy trả lại cho chị L.

[5] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ – Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Vũ Văn Đ để đảm bảo để đảm bảo việc thi hành án.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn H – Tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn H – 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Lương Văn H phải chịu tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là Tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/09/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[2] Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 1980,33 gam ma túy Methamphetamine và 13,34 gam ma túy Methamphetamin, là vật chứng ma túy của vụ án còn lại sau khi giám định.

Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng, màu đen, số imei 357705102200071; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 đã qua sử dụng, màu đen, số imei 862366051724716.

Trả lại cho chị Lộc Thị L 01 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave đã qua sử dụng, biển kiểm soát 37K1- 119.94, số máy JA39E0448367, số khung 3904HY473225.

Đặc điểm các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thihành án dân sự tỉnh N.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Vũ Văn Đ, Lương Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo Vũ Văn Đ có quyền làm đơn xin Chủ tịch N để được ân giảm án tử hình./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An
  • - Cục T.H.A dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Các bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vu Van Dang ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger