Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 109/2023/HSST

Ngày: 26/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Long.

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Minh Long.

Ông Nguyễn Minh Á.

+ Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Lê Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2023/TLST-HS ngày 05/10/2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đình Q - sinh năm 1979 tại Khánh Hòa. Trú tại: A Q, phường P, N, Khánh Hòa; Chỗ ở: Thôn P, xã P, N, Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông: Không rõ cha và bà Nguyễn Thị Kim C (1962); vợ Phan Lê H (1980), có 02 con sinh năm 2017 và 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2023, có mặt tại phiên tòa.

2. Phan Thanh Q1 - sinh năm 1974 tại Khánh Hòa. Trú tại: 131/68/19 đường B, V, N; Chỗ ở: P, P, N; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; con ông Phan T (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); vợ Nguyễn Thị Kim C1 (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 1995 và 2000; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2004/HSST ngày 05/7/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2006; Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2015/HSST ngày 11/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2017. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2023, có mặt tại phiên tòa.

3. Trương Văn P - sinh năm 1975 tại Khánh Hòa. Trú tại: 9 đường Đ, P, N; chỗ ở: P, P, N; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông Trương Văn P1 (chết) và bà Lê Thị L (chết); vợ Nguyễn Thị S (đã ly hôn năm 2006), có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 39/1996/HSST ngày 12/6/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Trốn khỏi nơi giam”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/1999; Bản án hình sự phúc thẩm số 211/2000/HSPT ngày 21/12/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2002; Bản án hình sự phúc thẩm số 876/2004/HSPT ngày 21/10/2004 của Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2013. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/3/2023, có mặt tại phiên tòa.

4. Phan Lê H - sinh năm 1980 tại Khánh Hòa. Trú tại: G đường H, L, N; chỗ ở: P, P, N; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phan Đình H1 (chết) và bà Lê Thị C2 (1941); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị SoHyun Jeon, sinh năm 1996; nơi lưu trú: Khu D, C, Cam Hải Đ, C, Khánh Hòa. Do Bà Park S1, sinh năm 1987 làm đại diện theo ủy quyền. Bà Park S1 vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Minh Q2 (1995); nơi thường trú: 84 L, Phường H, T, Phú Yên; chỗ ở: B M, V, N, Khánh Hòa. Anh Q2 có đơn trình bày ý kiến và xin vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bà Nguyễn Thị H2 (1980); địa chỉ: A L, P, N, Khánh Hòa. Bà H2 có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Park M (1990); địa chỉ: Khu D, C, Cam Hải Đ, C, Khánh Hòa. Anh Park M vắng mặt.

2. Anh Võ Nhật H3 (1991); địa chỉ: 9 H, L, N, Khánh Hòa. Anh H3 vắng mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Ông Lê Công D (1948); địa chỉ: G N, T, N, Khánh Hòa. Ông D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Đình Q, Phan Thanh Q1 và Trương Văn P đã bàn bạc rủ nhau đi cướp giật tài sản. Đình Quang đưa xe mô tô Air Blade biển kiểm soát 79H1 - 996.52 cho Thanh Q1 và P sử dụng làm phương tiện đi cướp giật, còn Thanh Q1 và P là người trực tiếp thực hiện việc cướp giật tài sản.

Khoảng 12 giờ ngày 24/02/2023, P điều khiển xe mô tô 79H1 - 996.52 chở Thanh Q1 đi trên các tuyến đường trong thành phố N xem ai sơ hở thì cướp giật tài sản. Khi đến trước nhà số F đường N, phường T, thành phố N, cả hai phát hiện thấy chị Shohyun J và anh Park M (đều có quốc tịch Hàn Quốc) đang đi bộ sát lề đường, trên tay phải của chị Shohyun J cầm một chiếc túi xách màu trắng. P điều khiển xe mô tô áp sát vào bên phải của chị Shohyun J để Thanh Q1 ngồi sau dùng tay trái giật túi xách. Sau đó, P điều khiển bỏ chạy đến đường Đ, phường P, thành phố N thì dừng lại. Cả hai kiểm tra túi xách thấy có 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu xám, 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng, 210USD, 22.000Won, 2.000.000đ, 01 ví da nam và một số giấy tờ. Tiếp đó, P điều khiển xe máy chở Thanh Q1 đi tới tiệm Đ1 ở số D đường N, phường V, thành phố N, bán 02 điện thoại trên cho Lê Minh Q2 được 2.800.000đ. Sau đó, cả hai đi về lại nhà của Đình Q. Khi vào trong nhà, Thanh Q1 và P có nói chuyện về tài sản vừa cướp giật được thì Phan Lê H (vợ của Đình Q) ở trong phòng nghe và biết được sự việc. P và Thanh Q1 đi xuống phòng của Đình Q ở gần cuối nhà đưa toàn bộ tài sản cướp giật được cho Đình Q. Lúc này, H đi xuống bếp nấu ăn thì nghe được cả ba đang bàn nhau chia tài sản cướp giật được. Sau đó, Đình Q đưa cho H 200USD nói đi đổi ra tiền Việt Nam. Do cần tiền trang trải cuộc sống, H đã đem 200USD đến một tiệm vàng ở chợ B được 4.400.000đ, rồi đem về đưa lại cho Đình Q. Đình Quang chia cho P và Thanh Q1 mỗi người 1.500.000đ và cho thêm P 01 chiếc ví da nam để sử dụng; số tiền còn lại Đình Quang giữ để chi tiêu cho gia đình. Đối với chiếc ví da nam, P thấy không phù hợp nên đã vứt bỏ.

Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 02/3/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 điện thoại Iphone 13 - 128GB có giá trị là 7.766.000đ; 01 điện thoại Iphone 11 Pro - 64GB trị giá 5.500.000đ.

Theo Công văn số 1477 ngày 13/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: Không có cơ sở tổ chức họp Hội đồng định giá để xác định giá trị tài sản là 01 chiếc túi xách bằng vải màu trắng kem có quai xách, trên túi có nhiều cuộn len nhỏ có các màu vàng, xanh, hồng và 01 chiếc ví da nam màu đen vì không có các thông tin, đặc điểm, chất lượng còn lại của tài sản.

Công văn số 372 ngày 12/4/2023 của Ngân hàng N Chi nhánh tỉnh K xác định tỷ giá trung tâm của Đ2 so với Đô la Mỹ áp dụng ngày 24/02/2023 là 23.642VND/USD.

Công văn số 848 ngày 16/8/2023 của Ngân hàng N Chi nhánh tỉnh K xác định tỷ giá chéo của đồng Việt Nam so với Won Hàn Quốc áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực từ ngày 23/02/2023 đến 01/3/2023 là 18,11 VND/KRW.

Tổng giá trị tài sản các bị cáo cướp giật của bị hại là: 20.629.240đ.

Cáo trạng số 106/CT-VKSKH-P1 ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố Nguyễn Đình Q, Phan Thanh Q1, Trương Văn P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171; truy tố Phan Lê H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Nguyễn Đình Q, Phan Thanh Q1, Trương Văn P đều từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Phan Lê Hiền từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định. Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Các quyết định, hành vi của các Cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy hồ sơ đã có lời khai và sự vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án theo quy định chung.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Đình Q, Phan Thanh Q1 và Trương Văn P cùng bàn bạc rủ nhau đi cướp giật tài sản, theo đó thì Đình Q đưa xe mô tô 79H1 - 996.52 cho Thanh Q1 và P trực tiếp đi cướp giật tài sản. Khoảng 12h00 ngày 24/02/2023, Thanh Q1 và P đã cướp giật giỏ xách của chị Shohyun J (quốc tịch Hàn Quốc), bên trong có 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu xám, 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng, 210USD, 22.000Won, 2.000.000đ, 01 ví da nam và một số giấy tờ. P và Thanh Q1 đi đến tiệm Đ1 tại số D N, V, N bán cho Lê Minh Q2 được 2.800.000đ. Sau đó, P và Thanh Q1 cùng đi về nhà của Đình Q và kể lại sự việc cướp giật tài sản nêu trên cho Đình Q nghe, lúc này Phan Lê H (vợ của Đình Q) ở trong phòng nghe và biết toàn bộ sự việc. Đình Quang đưa cho H 200USD để đi đổi ra tiền Việt Nam, mặc dù biết số tiền này do Thanh Q1 và P vừa đi cướp giật về nhưng do cần tiền tiêu xài nên H đã đồng ý đi đổi được 4.400.000đ tiền Việt Nam rồi mang về đưa lại cho Đình Q. Đình Quang chia cho Thanh Q1 và P mỗi người 1.500.000đ, số còn lại Đình Quang giữ và chi tiêu trong gia đình. Qua định giá, xác định tổng giá trị tài sản các bị cáo cướp giật của bị hại là 20.629.240đ.

Như vậy, Cáo trạng số 106/CT-VKSKH-P1 ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố Nguyễn Đình Q, Phan Thanh Q1, Trương Văn P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171; truy tố Phan Lê H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Xét thấy: Bản án hình sự phúc thẩm số 211/2000/HSPT ngày 21/12/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã xử phạt bị cáo Trương Văn P 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” theo khoản 1 Điều 158 của Bộ luật hình sự năm 1985 (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20/01/2002). Trong đó, các cơ quan tiến hành tố tụng đã không định giá tài sản bị chiếm đoạt vì cấu thành của Điều 158 của Bộ Luật hình sự năm 1985 không có định lượng. Vận dụng tinh thần của Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử không xác định tiền án đối với bị cáo P.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác trái pháp luật. Trong vụ án này, các bị cáo Thanh Q1 và P là những người trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bị cáo Đình Q là người cùng bàn bạc, cung cấp phương tiện và sau đó, Đình Q là người trực tiếp chia tiền cho các bị cáo khác. Đối với bị cáo H, mặc dù biết được tài sản là do các bị cáo phạm tội mà có nhưng vẫn giúp các bị cáo tiêu thụ. Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên cần xử phạt nghiêm. Xét thấy sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; các bị cáo Đình Q và H chưa có tiền án tiền sự, nhân thân tốt. Do đó, xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo. Riêng đối với bị cáo Phan Lê H: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường Í; giá trị phạm tội không lớn nên xem xét cho bị cáo H được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe bị cáo.

[4] Các nội dung khác:

+ Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Minh Q2 có đơn xin vắng mặt và thể hiện ý kiến không yêu cầu, Nguyễn Thị H2 không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

- Án phí:

Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo qui định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trương Văn P, Phan Thanh Q1, Nguyễn Đình Q.

Áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình Q.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Lê H.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam ngày 01/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Trương Văn P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam ngày 01/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Phan Thanh Q1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam ngày 01/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Phan Lê H 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Lê H cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Phan Lê H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phan Lê H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo Phan Lê H thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự:

- Tại phiên tòa, bị hại và đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Minh Q2 và Nguyễn Thị H2 đều không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình Q, Phan Thanh Q1, Trương Văn P, Phan Lê H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSNDCC tại Đà Nẵng;
  • - Trại giam;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tuấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự về tội "cướp giật tài sản" và tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"

  • Số bản án: 109/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Cướp giật tài sản" và tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn P, Phan Thanh Q1, Nguyễn Đình Q về tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger