|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/HSST Ngày: 20-08-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung
Bà Phạm Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân H; sinh ngày 02/6/1986 tại Phú Thọ.
Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí Q, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1947; có vợ là Nguyễn Thị Hương T, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2006.
Tiền sự: Không
Tiền án: 03 tiền án
- Năm 2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự 1999 theo bản án số 127/2012/HSST ngày 27/8/2012 và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 24/2012/HSPT-QĐ ngày 22/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình. Bị cáo phải bồi thường dân sự số tiền 6.757.000đ, nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 337.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2017. Tại biên bản xác minh ngày 12/06/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình thể hiện không tìm thấy thông tin, dữ liệu thi hành án và chưa thụ lý đơn yêu cầu thi hành án liên quan đến bản án trên. Đến ngày 13/10/2019, bị cáo phạm tội mới. Bị cáo chưa được xóa án tích;
- Năm 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại bản án số 10A/2020/HSST ngày 20/02/2020.
- Năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại bản án số 30/2022/HSST ngày 11/8/2022.
Nhân thân:
- Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 theo bản án số 176/HSST ngày 24/11/2009.
- Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 03/2017/QĐ-TA ngày 14/8/2017.
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ – Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Hiện bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa
- Bị hại:
- Chị Lê Đoàn Khánh V, sinh năm 2006;
- Chị Phạm Thị Tú L, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Nơi cư trú: Xóm L, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1972;
- Phùng Minh D, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
Nơi cư trú: Xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Xuân H là người không có việc làm ổn định, để có tiền chi tiêu cá nhân, trong các ngày 06/3/2024 và 07/3/2024, bị cáo đã thực hiện hành vi Cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn thành phố H, tỉnh Hòa Bình, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 06/3/2024, bị cáo H mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh, BKS 19C1 – 343.37 của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1972, trú tại: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là chị gái ruột của H) với lý do đi sửa điện thoại, chị H2 đồng ý và giao xe cho H sử dụng. Sau đó, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô trên đi từ nhà đến khu vực thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường H theo hướng chợ Mới đến trường THPT C1, bị cáo nhìn thấy phía trước cùng chiều có 01 xe máy điện do cháu Triệu Khánh C (sinh năm 2006, trú tại: Tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình) chở theo sau cháu Lê Đoàn Khánh V, sinh năm 2006, trú tại: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình, quan sát trên tay phải cháu V lúc này đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nên H đã nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Bị cáo H chủ động điều khiển xe mô tô bám theo phía sau xe máy điện của cháu C, khi đến đoạn đường giao cắt giữa đường H và đường P thuộc tổ A, phường H, thành phố H quan sát thấy xung quanh không có người, bị cáo điều khiển xe môtô tăng tốc vượt lên phía bên phải xe máy điện của cháu C và dùng tay trái cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73, màu xanh, vỏ ốp màu đen, dung lượng 128Gb khỏi tay phải của cháu V rồi tăng ga tẩu thoát theo đường Đại lộ T đi về xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến khoảng 20 giờ ngày 06/3/2024, bị cáo H mang chiếc điện thoại di động vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại di động của anh Phùng Minh D, sinh năm 1987, trú tại: Xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã nhờ phá mật khẩu điện thoại, tuy nhiên do bận việc nên anh D chưa làm được và bảo H để lại chiếc điện thoại tại cửa hàng, bị cáo H đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 07/3/2024, bị cáo H quay lại cửa hàng để lấy điện thoại nhưng anh D nói bận chưa làm được. Tuy nhiên, do cần tiền nên H đã cầm cố 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3, màu trắng, dung lượng 64Gb của bản thân cho anh D để lấy số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn). Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 cướp giật được của cháu V, H vẫn để ở cửa hàng điện thoại của anh D chờ phá mật khẩu. Đến ngày 07/03/2024, sau khi biết được chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 nêu trên là tài sản do H cướp giật mà có, anh Phùng Minh D đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình để phục vụ giải quyết vụ án.
Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, bị cáo H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh, BKS 19C1 - 343.37 đi từ nhà đến hiệu thuốc Sao Mai tại địa chỉ tổ E, phường H, thành phố H của chị Phạm Thị Tú L, sinh năm 1996, trú tại xóm L, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình để mua bơm kim tiêm nhằm mục đích sử dụng ma túy. Quá trình mua bán, bị cáo H lấy ví ra để trả tiền thì làm rơi chiếc nhẫn kim loại màu vàng từ trong ví xuống nền nhà, H cúi người xuống nhặt chiếc nhẫn thì quan sát thấy tại vị trí bàn thờ thần tài của cửa hàng lúc này có đặt 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn). Lợi dụng chị L không để ý, bị cáo H đã dùng tay trái lấy trộm tờ tiền trên rồi cất vào trong ví cá nhân, sau đó bỏ đi.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: “01(một) chiếc điện thoại, nhãn hiệu OPPO A73, màu xanh, dung lượng 128Gb, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng); 01 (một) ốp điện thoại di động màu đen, có hoa văn phía sau, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 30.000₫ (Ba mươi nghìn đồng). Tổng trị giá các tài sản là 2.230.000đ (Hai triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng)”.
Tại biên bản giám định tiền ngày 19/6/2024 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H xác định: “Đã tiến hành giám định tổng số tiền là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) theo đề nghị của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H. Sau khi đối chiếu với tiền mẫu do Ngân hàng N phát hành đã xác định là tiền thật do N1 phát hành”.
Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân H về tội Cướp giật tài sản với 02 tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự và tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171; điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H mức án từ 9 đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 42 đến 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu hình phạt chung cho hai tội là 51 đến 60 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
Các bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo trình bày lời bào chữa, thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi và các quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và của cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi và các quyết định tố tụng trên. Do vậy, hành vi và các quyết định tố tụng đó là hợp pháp.
[2] Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Để có tiền chi tiêu cá nhân, ngày 06/3/2024, bị cáo Nguyễn Xuân H đã dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô thực hiện hành vi cướp giật tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO trị giá 2.230.000 đồng của cháu Lê Đoàn Khánh V tại khu vực tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Đến ngày 07/3/2024, bị cáo H tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 100.000 đồng của chị Phạm Thị Tú L tại khu vực tổ E, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Tại thời điểm thực hiện hành vi cướp giật ngày 06/3/2024 và hành vi trộm cắp tài sản ngày 07/3/2024, bị cáo H có 03 tiền án về tội Cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Trong đó bản án số 30/2022/HSST ngày 11/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”. Do đó, lần phạm tội cướp giật tài sản ngày 06/3/2024 của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” và bị cáo đã sử dụng xe máy thực hiện việc cướp giật tài sản nên thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ. Cùng kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận: Hành vi bị cáo thực hiện ở trên đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với 02 tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại các điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố bị cáo theo các tội danh và các điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo có 03 tiền án về nhóm tội sở hữu chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần có một mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và ngày 07/3/2024, bị cáo đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
[4] Về các hành vi khác:
Đối với chị Nguyễn Thị H2 là người cho Nguyễn Xuân H mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 19C1 - 343.37, số khung RLHJA3918KY313896, số máy JA39E1177422, tình trạng đã qua sử dụng. Khi cho mượn xe chị H2 không biết bị cáo H sử dụng vào mục đích vi phạm pháp luật nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý và trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H2 là có căn cứ.
Đối với anh Phùng Minh D là chủ cửa hàng điện thoại đã nhận phá khóa chiếc điện thoại OPPO do bị cáo H cướp giật. Tuy nhiên, D không biết chiếc điện thoại trên do bị cáo phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại Lê Đoàn Khánh V, Phạm Thị Tú L đã nhận lại tài sản chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân H phải bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo. Các bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong cùng thời hạn trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Áp dụng: điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171; điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu hình phạt chung cho hai tội là 51 (năm mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Lan |
Bản án số 109/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự (cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 109/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản.
