|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 14.5.2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Thị Hoài Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nguyệt
Bà Phạm Nguyễn Phương Thà.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 12/2024/QĐST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh G, sinh năm 1997 tại Đồng Tháp; HKTT: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công C, sinh năm 1970 và bà Phan Thị Đ, sinh năm 1971. Bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Thiều Văn K, sinh năm 1993; HKTT: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Tấn H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thanh G và Thiều Văn K là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/8/2021, cả hai đi đến khu vực Bệnh viện A, khu phố D, phường A, thành phố T, Bình Dương gặp một người thanh niên không rõ tên khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,65m, da ngăm đen, nói giọng Miền N để mua 01 túi ma túy với số tiền 1.600.000đồng (mỗi người 800.000 đồng) mang về để sử dụng. Khi về đến khu vực trước cổng Công ty G1, đường ĐT743 thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
G và K lợi dụng việc không bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ do vào giai đoạn tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương nên G và K đã bỏ trốn. Ngày 25/12/2023, bị cáo G đã đến công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đầu thú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phục hồi điều tra đối với vụ án.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 66P2 – 222.37.
Ngày 23/8/2021, Phòng K1 Công an tỉnh B có kết luận giám định số 555/MT-PC09 với nội dung: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,4039 gam.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKS-TA ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Huỳnh Thanh G từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Bị cáo có đơn xin được xét xử vắng mặt và trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lao động chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Huỳnh Thanh G có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn được Nhà tạm giữ công an thành phố T xác nhận. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Tại bản tường trình (bút lục 62 - 63); biên bản hỏi cung bị can (bút lục 69-70); biên bản ghi lời khai (bút lục 66-68): Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/8/2021, tại khu vực trước cổng Công ty G1, đường ĐT743 thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Huỳnh Thanh G đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 1,4039gam nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Huỳnh Thanh G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại đơn xin vắng mặt, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự đến đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với Thiều Văn K là đồng phạm của bị cáo G đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xử phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 251/2022/HSST ngày 09/9/2022.
[6] Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
[7] Vật chứng thu giữ trong vụ án được xử lý tại Bản án số 251/2022/HSST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An nên không đề cập xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Thanh G phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hoài Phương |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trưc trái phép chất ma tuý
