|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2023/HS-ST Ngày: 17-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đồng, bà Lê Thị Sử.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tổ chức phiên Tòa trực tuyến diễn ra tại các điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh N để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đậu Văn N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/3/1982; N1 sinh: huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Đậu Văn T, sinh năm 1950; Họ và tên mẹ: Lê Thị T1, sinh năm: 1951; Vợ: Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1981 (đã ly hôn); Con: Có 01 người con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 15/HSST/2001 ngày 26/6/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo N 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 42/HSST ngày 30/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo N 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tại Bản án số 15/HSST/2001 ngày 26/6/2001
buộc Đậu Văn N phải chấp hành chung cả hai bản án là 18 tháng tù. Ngày 30/4/2002, bị cáo Đậu Văn N chấp hành xong án phạt tù; Bản án số 82/HSST ngày 28/10/2003 của Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo N 60 tháng tù về tội “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, công trái giả”. Ngày 26/8/2007, bị cáo Đậu Văn N chấp hành xong án phạt tù; Bản án số 244/HSST/2013 ngày 11/3/2013 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo N 28 (hai mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo N đã chấp hành xong hình phạt ngày 11/5/2015; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2023, hiện nay đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 ngày 04/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Đậu Văn N đi bộ một mình xuống khu vực thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An để tìm mua về sử dụng. Khi bị cáo N đi đến khu vực cầu Đ thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An thì gặp một nam thanh niên đang đứng ở cầu. Bị cáo N đi đến nói chuyện cùng người này. Qua nói chuyện người này giới thiệu tên C, ở huyện T, tỉnh Nghệ An. Một lúc sau bị cáo N hỏi nam thanh niên tên C “Có không để cho anh năm trăm”- Ý của bị cáo N hỏi có người thanh niên tên C có ma túy H không bán cho bị cáo N 500.000 (năm trăm nghìn) đồng. Nam thanh niên tên C trả lời “có”. Nghe vậy, bị cáo N lấy từ trong người ra 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng đưa cho C. N2 thanh niêm tên C cầm tiền rồi đưa lại cho bị cáo N 01(Một) gói ma túy Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ màu đen. Sau khi mua được ma túy bị cáo N cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi bộ về nhà, còn người thanh niên tên C đi đâu bị cáo N không rõ. Khi bị cáo N đi đến khu vực đường liên xóm thuộc Xóm D, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An kiểm tra tra hành chính, quá trình kiểm tra đã phát hiện trong lòng bàn tay trái bị cáo N 01 (một) gói ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Đậu Văn N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng theo đúng quy định và đưa bị cáo N về trụ sơ làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy màu trắng có chữ đen bên trong chứa chất nghi là ma túy.
Vào hồi 21 giờ, ngày 04/8/2023, tại Công an huyện Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Đậu Văn N có khối lượng là 0,171g (Bằng chữ: Không phẩy một trăm bảy mươi mốt gam). Đồng thời Hội đồng đã lấy toàn bộ chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Đậu Văn N gửi đi giám định tại Phòng K Công an tỉnh N. Vào hồi 21 giờ 22 phút, ngày 04/8/2023, Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đã xét nghiệm ma túy đối với bị cáo Đậu Văn N. Kết quả bị cáo Đậu Văn N dương tính với ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 827/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 11/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Đậu Văn N gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine; có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Đậu Văn N có khối lượng là 0,171g (Không phẩy một trăm bảy mươi mốt gam). Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số 103/CT-VKS-ĐL ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Đậu Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xử phạt bị cáo Đậu Văn N từ 27 (hai mươi bảy) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tuyên xử: Tịch 01 phòng bì thư màu trắng của Công an huyện Đ được niêm phong dán kín theo đúng quy định, có kích thước 17x23 cm, bên trong chứa vật chứng còn lại (Vỏ giấy, vỏ phong bì niêm phong ban đầu) thu giữ của bị cáo Đậu Văn N, phía sau, trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, chữ ký của bị cáo Đậu Văn N.
Về án phí: Bị cáo Đậu Văn N3 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố là đúng nên không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và Cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 15 phút, ngày 04/7/2023, tại khu vực đường liên xóm thuộc Xóm D, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An bị cáo Đậu Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) có khối lượng là 0,171g (Không phẩy một trăm bảy mươi mốt gam), nhằm mục đích sử dụng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiến hành vi của mình. Như vậy, hành vi của bị cáo Đậu Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.2]. Xét tính chất hành vi của bị cáo:
Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, xâm
phạm đến quyền chính sách độc quyền về quản lý ma túy của Nhà nước và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội là tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử, mặc dù đã chấp hành xong bản án nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục dẫn thân và con đường phạm tội điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ là ông Đậu Văn T là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì đã có thành tích trong công tác của ngành Bảo hiểm xã hội. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.4]. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[2.5]. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đã thu giữ 0,171 gam ma túy Heroine và đã mang toàn bộ số ma túy này đị giám định, quá trình giám định đã sử dụng hết. Vật chứng còn lại: Vỏ giấy, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của bị cáo Đậu Văn N được đựng trong 01 (một) phòng bì thư màu trắng của Công an huyện Đ được niêm phong dán kín theo đúng quy định, có kích thước 17x23 cm, bên trong chứa vật chứng còn lại, phía sau, trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, chữ ký của bị cáo Đậu Văn N. Số vật chứng nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[3] Đối với người thanh niên tên C theo bị cáo Đậu Văn Nguyên k là người bán ma túy cho bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Đ không điều tra, xác minh được người thanh niên nào có tên và đặc điểm như bị cáo mô tả. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý, khi nào điều tra, xác minh được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[4] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo Đậu Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- - Tuyên bố: Bị cáo Đậu Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- - Xử phạt: Bị cáo Đậu Văn N 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 04/8/2023.
- - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đậu Văn N.
- - Về vật chứng: Tịch tịch thu tiêu hủy Tịch 01 phòng bì thư màu trắng của Công an huyện Đ được niêm phong dán kín theo đúng quy định, có kích thước 17x23 cm, bên trong chứa vật chứng còn lại (Vỏ giấy, vỏ phong bì niêm phong ban đầu) thu giữ của bị cáo Đậu Văn N, phía sau, trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, chữ ký của bị cáo Đậu Văn N. (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 24/10/2023, giữa Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).
- - Về án phí: Bị cáo Đậu Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Duy Phi |
Bản án số 109/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 109/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đậu Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
