TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 17/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Phương
2. Bà Vũ Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung số 1 - Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/11/1990 tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi đăng ký thường trú: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi ở hiện tại: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Văn H - sinh năm 1961; Con bà: Vũ Thị V - sinh năm 1966 (Cùng trú tại: Tổ B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu); Vợ: Đỗ Thị P - sinh năm 1989; Trú tại: Tổ B, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022; A, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 chị em.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 27/7/2010 bị Toà án nhân thành phố L, tỉnh Lào Cai xử phạt 07 (bảy) năm tù giam về tội Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Trộm cắp tài sản.
Ngày 14/9/2020 bị Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) về hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 25/2/2024 đến nay; Có mặt.
- Người có quyền lợi liên quan:
- Ông Đặng Văn H1 - sinh năm 1990; Trú tại: Tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H2 - sinh năm 1991; Trú tại: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 25/02/2024 tại khu vực tổ H, phường S, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Phạm Văn T (sinh ngày 21/11/1990; Trú tại: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) gói giấy viết màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (H3) do T tự giác giao nộp từ túi áo đang trước bên trái T đang mặc.
- + 01 (một) điện thoại di động mặt sau màu đen, có số IMEI: 356543106810301, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu đen bạc, biển kiểm soát: 11B1 - 253.67, số khung: RLHJA3901HY094912, số máy: JA39E0094997, xe cũ đã qua sử dụng.
Hồi 12 giờ 45 phút ngày 25/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng tang vật chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn T, kết quả: Tang vật qua tang có khối lượng 0,14g (không phẩy mười bốn gam).
Ngày 26/02/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 247 đối với vật chứng vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 174 ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/02/2024, Phạm Văn T mượn xe máy mang biển kiểm soát 11B1 - 253.67 của Đặng Văn H1 (sinh năm 1990; trú tại: Tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu) là bạn ở trọ cùng phòng với T để đi ra ngoài có việc cần giải quyết thì được H1 đồng ý. Sau khi mượn được xe, T một mình đi đến khu vực bờ sông thuộc tổ H, phường S, thành phố C với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng thì được dựa lại cho một gói ma túy. Sau khi nhận được ma túy, T đang trên đường đi tìm nơi sử dụng thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện thu giữ gói ma túy của T và lập biên bản, niêm phong tang vật theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu đen bạc, biển kiểm soát: 11B1 - 253.67, số khung: RLHJA3901HY094912, số máy: JA39E0094997, xe cũ đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh năm 1991; Trú tại: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Ngày 18/02/2024, bà H2 cho ông Đặng Văn H1 (sinh năm 1990; Trú tại: Tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu) thuê chiếc xe với giá 25.000 đồng (bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) trên một tuần. Đến ngày 25/02/2024, ông H1 là bạn với bà H2, ông H1 cho bạn là Phạm Văn T mượn xe đi có việc và T đã bị cơ quan công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Việc T sử dụng xe đi mua ma túy ông H1 hoàn toàn không biết. Ông H1 đã thanh toán tiền thuê xe và làm giấy thỏa thuận trả lại chiếc xe máy đó cho bà H2. Việc T sử dụng xe mô tô của bà H2 đi mua ma túy bà H2 hoàn toàn không biết. Do đó, ngày 10/5/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 612 để trả lại chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 11B1 - 253.67 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H2. Đối với các vật chứng còn lại tiếp tục tạm giữ để phục vụ công tác giải quyết vụ án.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKSTP ngày 05/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với Bản kết luận giám định số 174 ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C và khối lượng ma túy bị thu giữ.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn đều xác nhận đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 15 đến 18 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy bị thu giữ; chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để xác định:
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 25/02/2024 tại khu vực tổ H, phường S, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,14g (không phẩy mười bốn gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án và 01 tiền sự, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không được coi là người có nhân thân tốt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[4] Về hình phạt chính:
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo đã được giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho những người có ý định phạm tội.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy bị thu giữ là đồ vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- - Chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu đen bạc, biển kiểm soát: 11B1 - 253.67: ngày 10/5/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 612 để trả lại chiếc xe mô tô cho bà Nguyễn Thị Ngọc H2 là đúng pháp luật.
[7] Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo Phạm Văn T khai được mua với một người đàn ông không quen biết, việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 25/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Số 174/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Phạm Văn T có hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 25/02/2024".
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt sau màu đen có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 356543106810301, điện thoại cũ đã qua sử dụng, góc trái màn hình có nhiều vết nứt. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
Vật chứng trên hiện nay đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 124 ngày 18/6/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lư và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
