TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HS-ST
Ngày 16-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn và bà Lê Thị Thanh Vân
Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chúc - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 63/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Đình C
sinh ngày 03/8/2003 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: phật giáo Hoà Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bé M; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01 tháng 01 năm 2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (Có mặt)
Bị hại:
Thái Thị Hồng S, sinh ngày 30/12/2005. (Vắng mặt)
Cư trú: ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang.
Nơi ở hiện tại: Phòng số 01, Nhà T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Võ Hồng T, sinh năm 2002, (Vắng mặt)
- Cư trú: Số B, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- + Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1978, (Vắng mặt)
- Cư trú: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- + Phạm Thị Trâm A, sinh năm 1996, (Có mặt)
- Cư trú: Số F, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- + Võ Văn D, sinh năm 1970, (Vắng mặt)
- Cư trú: Số A, tổ D, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- + Nguyễn Văn H1, (Vắng mặt)
- Cư trú: Ấp P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 31 tháng 12 năm 2023, chị Thái Thị Hồng S dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 67D2-355.31 tại phòng trọ số 1, nhà trọ “Ngân Khánh” thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 01 tháng 01 năm 2024, chị S trở về phát hiện xe mô tô trên bị mất trộm nên đến Công an phường M trình báo.
Khoảng 09 giờ ngày 01 tháng 01 năm 2024, Phạm Đình C đang điều khiển xe mô tô nêu trên của chị S đi hướng C - H thì bị Công an huyện C, tỉnh An Giang kiểm tra, bắt giữ. C khai: Khoảng 20 giờ ngày 31 tháng 12 năm 2023, Nguyễn Hoàng P kêu C đến gặp Vũ Huy P1 tại khu vực phường B, thành phố L nhận xe mô tô (không nói rõ là xe loại nào) giao cho khách ở H và P đưa cho C các biển số xe 62H1 – 325.45 và 65H7 – 6343 để lắp đổi biển số xe trước khi giao cho khách và nói tiền giao xe của C là 400.000đ. Đến khoảng 08 giờ ngày 01 tháng 01 năm 2024, P điện thoại cho C nói lát nữa có ông Huỳnh Thắng L là xe ôm sẽ chở C xuống B và nói P có gửi cho ông L 500.000đ. Sau đó, ông L đến đưa cho C 500.000đ của P gửi, rồi chở C đến gặp P1. Đến B, C trả tiền xe ôm hết 90.000đ, còn lại 410.000đ. Khi C đến gặp P1 thì P1 đưa cho C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng của chị S bị mất trộm nhưng đã thay đổi biển số xe là 67L1-156.78. C điều khiển xe này về nhà của C rồi lắp đổi biển số xe do P đưa trước là 62H1-325.45. Sau đó, trên đường C điều khiển xe này đi H giao cho khách thì bị bắt giữ.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng; 01 biển số xe 62H1 – 325.45; 01 biển số xe 67L1-156.78; 01 biển số xe 65H7 – 6343; 01 biển số xe 66V1-917.52; 01 biển số xe 67L2-610.48; số tiền 426.000đ; 01 biên nhận gửi hàng của Tô C1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50, màu đen, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định tài sản số 1241 /KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 67D2-355.31, nhãn hiệu Honda Wave Alpha trị giá 19.305.000đ.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSLX-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã truy tố Phạm Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Phạm Đình C và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Đình C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét đến.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- + Tịch thu tiêu huỷ: Các biển số xe không còn giá trị sử dụng gồm: 62H1 – 325.45, 67L1-156.78, 65H7 – 6343, 66V1-917.52, 67L2-610.48; 01 biên nhận gửi hàng của Tô C1 do bị cáo không yêu cầu nhận lại.
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen do bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và số tiền 426.000đ (trong đó 410.000₫ do bị cáo có được từ việc phạm tội và 16.000đ là tiền của bị cáo nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Hồng T, Nguyễn Thị Mỹ N, Võ Văn D, Nguyễn Văn H1 mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 31 tháng 12 năm 2023, Phạm Đình C đã bàn bạc, thoả thuận nhận 02 biển số xe 62H1 – 325.45 và 65H7 – 6343 từ Nguyễn Hoàng P là đã thể hiện ý thức chủ quan về việc hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ tài sản sau khi thực hiện hành vi trộm cắp cho P nhằm hưởng lợi từ P. Đến ngày 01 tháng 01 năm 2024, bị cáo Phạm Đình C đã nhận vận chuyển đi tiêu thụ đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển số 67D2-355.39, trị giá 19.305.000đ của chị Thái Thị Hồng S bị mất trộm vào ngày 01 tháng 01 năm 2024.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Đình C có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Nguyễn Hoàng P, Vũ Huy P1 đã bỏ địa phương đi, không làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của P, P1 để xem xét xử lý sau là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Thị Mỹ N, Phạm Thị Trâm A, Võ Hồng T không biết bị cáo Phạm Đình C sử dụng biển số xe mô tô 67L1-156.78, 66V1-917.52 và 62H1-325.45 làm công cụ phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Đối với Võ Văn D, Nguyễn Văn H1 là chủ sử dụng biển số xe 67L2-610.48 và 65H7-6343, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không làm việc được do không sinh sống và làm việc tại địa phương, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Bị cáo Phạm Đình C là người đã thành niên, khỏe mạnh, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Lẽ ra bị cáo phải chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và biết tu chí làm ăn tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, trở thành người có ích cho xã hội. Nhưng ngược lại để muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc, bị cáo đã xem thường pháp luật, đã cấu kết, hứa hẹn trước với Nguyễn Hoàng P sẽ thực hiện công đoạn vận chuyển xe mô tô do trộm cắp mà có cho P. Bản thân bị cáo đã nhận thức rõ hành vi bàn bạc, thoả thuận, hứa hẹn trước sẽ thực hiện công đoạn vận chuyển xe mô tô do trộm cắp mà có là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi trên của bị cáo giữ vai trò tiếp sức, tiếp tay cho tội phạm nên rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khi báo, ăn năn hối cải; đầu thú quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với biển số xe mô tô 67L1-156.78, 66V1-917.52, 62H1-325.45, 67L2-610.48 và 65H7-6343, đây là công cụ bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) biên nhận gửi hàng của Tô C1 đã thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng do bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen, đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Trong số tiền 426.000đ đã thu giữ của bị cáo, thì có 410.000đ do bị cáo có được từ việc phạm tội và 16.000đ là tiền riêng của bị cáo nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Đình C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 01/01/2024).
Tịch thu tiêu hủy các biển số xe mô tô 67L1-156.78, 66V1-917.52, 62H1-325.45, 67L2-610.48, 65H7-6343 và 01 (một) biên nhận gửi hàng của Tô C1.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen và số tiền 426.000đ đã thu giữ của bị cáo.
(Theo Uỷ nhiệm chi số 17 ngày 28 tháng 5 năm 2024, đơn vị trả tiền Công an thành phố L, đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
Buộc bị cáo Phạm Đình C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Đình C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Trâm A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại Thái Thị Hồng S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Hồng T, Nguyễn Thị Mỹ N, Võ Văn D, Nguyễn Văn H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đình C phạm tội "Trộm cắp tài sản"
