Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HSST

Ngày: 16 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cầm Ngọc Thương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ và ông Cầm Văn Tổ

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Tống Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 07 tháng 7 năm 1984 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Tống Văn T1 sinh năm 1960 và bà Vũ Thị T2 sinh năm 1962; bị cáo có 02 vợ là Nguyễn Thị Đ sinh năm 1986 (đã ly hôn năm 2010) và Vũ Thị A (đã ly hôn năm 2024), có 01 con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Tại bản án số 81/2009/HSST ngày 30/11/2009 Tống Văn T bị Toà án nhân dân Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích);
  • + Tại bản án số 265/2012/HSST ngày 26/9/2012 Tống Văn T bị Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tống Văn T3, sinh năm 1985, địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/4/2024, Tống Văn T đón xe khách (không biết tên và biển kiểm soát) đi từ nhà tại xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định đến nhà em trai là Tống Văn T3 (sinh năm 1986 trú tại tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La) và ở lại đó. Đến 14 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, T điều khiển xe đạp hiệu Tango của Tống Văn T3 đi tìm mua ma tuý về sử dụng. Đến khu vực xóm C, tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La T gặp và mua được của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 400.000VNĐ. T cầm gói Heroine mua được ở tay trái điều khiển xe đạp đi về, đi được khoảng 500m thì bị Tổ công tác công an thị trấn H, huyện M phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là H, tạm giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Philip F105 kèm theo 01 sim điện thoại tại túi quần bên phải T đang mặc và 01 xe đạp hiệu Tango.

Ngày 16/4/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện M phối hợp với Phòng PC09 Công an tỉnh S thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Tống Văn T, kết quả: Chất bột nén màu trắng có khối lượng là 0,19 gam, trích rút toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 932/KL-KTHS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.Khối lượng của mẫu gửi giám định là M= 0,19 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0, 19 gam loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại bản Cáo trạng số: 65/CT-VKSMS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Tống Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tống Văn T từ 18 đến 22 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu hồng, màu xanh gói ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện M phát hành.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Philips E105, vỏ màu đen, loại bàn phím bấm kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng;

Trả lại cho anh Tống Văn T3 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Tango, màu sơn đỏ trắng, xe đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21,23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị trả lại 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Tango, màu sơn đỏ trắng để quản lý, sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên toà bị cáo Tống Văn T thừa nhận: Ngày 16/4/2024, bị cáo đã mua 400.000 VNĐ Heroine của một người đàn ông tên, không biết địa chỉ tại khu vực xóm C, tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La về sử dụng. Trên đường về thì bị Tổ công tác Công an thị trấn H, huyện M bắt quả tang thu giữ 0,19 gam Heroine.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định số 932/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh S; Thông báo kết quả giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Tống Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 65/CT-VKSMS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố đối với bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua bán, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự

trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về việc đã làm. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Tại bản án số 81/2009/HSST ngày 30/11/2009 Tống Văn T bị Toà án nhân dân Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích); Tại bản án số 265/2012 ngày 26/9/2012 Tống Văn T bị Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích). Lần phạm tội này thể hiện bản thân bị cáo thiếu rèn luyện, tu dưỡng và chưa nhận thức được sự nguy hiểm của tội phạm đã thực hiện và tác hại của ma tuý.

Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, xét thấy: Bị cáo phạm tội về ma túy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, từ đó để răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc thu nhập ổn định nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu hồng, màu xanh gói ma túy ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips vỏ màu đen loại bàn phím bấm kèm 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng. Đối với 01 xe đạp hiệu Tango quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Tống Văn T3. Việc bị cáo Tình sử dụng xe để đi mua ma tuý anh T3 không biết và không có liên quan. Tại phiên toà anh T3 có đề nghị được trả lại chiếc xe đạp để quản lý, sử dụng là có căn cứ, cần chấp nhận theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[7] Về nguồn gốc ma túy và vấn đề liên quan:

Bị cáo T khai mua của người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ) tại khu vực xóm C, tiểu khu A, thị trấn H, huyện M. Việc mua bán ma túy giữa hai bên không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo T, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để

điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo Tống Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,19 gam Heroine thu giữ trong vụ án.

Đối với số tiền 400.000 VNĐ bị cáo sử dụng để mua ma tuý, ngoài lời khai của bị cáo không có ý kiến của người thứ ba liên quan đến khoản tiền này không có căn cứ xem xét, xử lý trong vụ án.

[8] Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21,23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Tống Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Tống Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 4 năm 2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu hồng, màu xanh gói ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện M phát hành.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Philips E105, loại có bàn phím, màu đen kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng;

Trả lại cho anh Tống Văn T3 01 chiếc xe đạp hiệu Tango, màu sơn đỏ, trắng, đã qua sử dụng.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
  • - THADS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
  • - Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cầm Ngọc Thương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HSST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 109/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Tống Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Tống Văn T 20 tháng tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger