|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/HS-PT Ngày: 16-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Hứa Quang Thông
Ông Trần Phước Hội
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 39/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự.
Bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/1977, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn Ư và bà Trương Thị L1; Có vợ và 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Ngày 14/6/2023, Nguyễn Văn T bị Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi mang theo trong người vũ khí thô sơ nhằm mục đích Cố ý gây thương tích cho người khác, chưa nộp phạt; Tạm giữ: Ngày 07/7/2023; Tạm giam: Ngày 16/7/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Trần Kim L, sinh ngày 01/01/1975, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con Trần Văn X (Sài, đã chết) và bà Đỗ Thị N (đã chết); Có chồng và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có người bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 06/7/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe đạp màu trắng đi từ nhà thuộc khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp đến khu vực bờ kè gần cầu S điều khiển xuồng loại Composite có gắn máy chạy bằng xăng đến bè nuôi cá cặp sông Tiền của anh Phan Văn T1 thuộc ấp P, xã P, huyện H để trộm cá cóc, nhằm mục đích bán kiếm tiền tiêu xài và đánh bạc. Khoảng 02 giờ ngày 07/7/2023, khi đến bè nuôi cá cóc của anh T1, quan sát xung quanh không có người trông coi nên bị cáo T ngồi lên bè, dùng vợt lớn xúc cá, khi vớt được cá thì bị cáo T bắt cá để vào túi lưới rồi treo cặp lòng bè cho cá sống. Khi xúc đến vợt cá thứ tư thì anh T1 cùng anh Nguyễn Nhựt N1, anh Nguyễn Văn T2, anh Nguyễn Văn P, anh Bùi Thanh T3 phát hiện và báo Công an xã P lập biên bản quả tang.
Ngoài lần bị bắt quả tang vào ngày 07/7/2023 với số lượng cá cóc trộm được là 262kg thì bị cáo T thừa nhận đã trộm cá tại bè cá của anh T1 khoảng 15 – 16 lần, tuy nhiên quá trình điều tra bị cáo L và những người mua cá đã khai nhận và xác định bị cáo T trộm tổng cộng 32 lần, mỗi một lần trộm là một loại cá, gồm cá cóc, cá heo đuôi đỏ, cá chèn bầu. Lần trộm đầu tiên là khoảng cuối năm 2022 những lần trộm sau đó liên tục, cách nhau từ 02-03 ngày, 05 - 07 ngày, có khi 10 ngày đến 01 tháng. Sau khi trộm được cá, bị cáo T gọi điện cho vợ là bị cáo Trần Kim L biết để bị cáo L gọi điện cho những người mua cá đến khu vực bờ kè sông S để cân cá hoặc bị cáo L trực tiếp để cá vào can nhựa màu trắng, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H1-310-42 và 66H1-484.70 do con ruột là chị Nguyễn Thị Thúy D đứng tên chủ sở hữu đến bán cá trực tiếp cho Đặng Thanh L2, Phan Thị Mỹ T4, Nguyễn Thị T5, Lâm Thị T6, Ngô Thị H (Hồ N), Trần Thị H1 (Hồ N) và bán lẻ cho nhiều người khác không biết họ, tên địa chỉ cụ thể với các loại cá cóc, cá chèn, cá heo đuôi đỏ là 1.682.015kg được số tiền là 89.442.500 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành cho các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L đối chất. Bị cáo Trần Kim L khai nhận đã bán cá do Nguyễn Văn T trộm được 32 lần, gồm các loại cá cóc, cá heo đuôi đỏ, cá chèn bầu, tổng khối lượng như các kết luận định giá tài sản là 1.682,015kg. Tại phiên tòa các bị cáo đều thống nhất các loại cá và số lượng cá đã trộm tại bè nuôi cá của anh Phan Văn T1.
Bị cáo T không phân công, bàn bạc với bị cáo L việc đi trộm tài sản nhưng ý thức của bị cáo L biết được bị cáo T đi khỏi nhà từ khoảng 22 giờ đến 04 giờ sáng là đi tìm cá để trộm, sau khi bị cáo T đem cá về với số lượng lớn và cùng một loại, bị cáo L biết rõ cá do bị cáo T trộm được, nhưng không biết trộm ở đâu và của ai. Bị cáo L giúp sức cho bị cáo T bán tất cả số lượng cá trộm được, các lần bán cá bị cáo L ghi lại từng loại cá, số lần và số lượng bán được vào quyển sổ và có khi không ghi sổ. Số tiền mỗi lần bán cá được thì bị cáo L giữ lại từ 300.000 đồng – 500.000 đồng để chi tiêu trong gia đình, còn lại đưa hết cho bị cáo T dùng vào việc tiêu xài cá nhân và tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà, lắc tài xỉu, số đề và trả nợ từ việc đánh bạc.
Vật chứng thu giữ:
- 262kg cá cóc, loại cá thịt 03 con 4,4kg, tình trạng cá còn sống, sau khi kiểm tra khối lượng Công an xã P đã bàn giao trả lại cho anh Phan Văn T1.
- 01 túi lưới có chiều dài 1,45m đường kính lưới 0,53m, đã qua sử dụng; 01 vợt vớt cá có chiều dài 3,05m, cán bằng gỗ dài 2,4m, chiều dài của lưới 2,6m, kích thước miệng lưới 0,68m x 0,64m, đã qua sử dụng; 01 vợt vớt cá chiều dài 0,74m, cán bằng kim loại dài 0,4m, chiều dài của lưới 1,55m, kích thước miệng lưới 0,37m x 0,33m, đã qua sử dụng; 01 xuồng loại Composite, chiều dài 5,8m, nơi rộng nhất 0,9m, nơi sâu nhất 0,28m, trên xuồng có gắn máy chạy xăng hiệu OHV, công suất 5,5P, gắn láp máy bằng kim loại dài 2,7m, đã qua sử dụng; 01 xe đạp màu trắng, đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện bị cáo Tình sử dụng để trộm cắp tài sản.
- 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO, màu xanh, không kiểm tra chất lượng bên trong, có gắn sim điện thoại 0365.033.xxx, đã qua sử dụng; 01 tờ giấy Tân Tiến, trên tờ giấy có ghi chữ T4, bán lẻ, cá nhỏ, cá lớn và các con số được đánh số thứ tự từ 01 đến 05 có chữ ký và ghi họ tên Trần Kim L. Đây là tờ giấy ghi lại kết quả bán cá do Nguyễn Văn T trộm được. Cụ thể: Tình trộm cá cóc được 05 lần, trong đó Nguyễn Văn T và Trần Kim L có 04 lần bán cá cho Phan Thị Mỹ T4 và 01 lần bán lẻ cho nhiều người khác không biết tên; 02 tờ giấy Tân Tiến, trên 02 tờ giấy có ghi chữ L2, bán lẻ, cá nhỏ, cá lớn và các con số được đánh số thứ tự từ 01 đến 10 có chữ ký và ghi họ tên Trần Kim L là tờ giấy ghi lại kết quả bán cá do Nguyễn Văn T trộm được. Cụ thể: Tình trộm cá cóc được 10 lần, trong đó Nguyễn Văn T và Trần Kim L có 08 lần bán cá cho Đặng Thanh L2 và 02 lần bán lẻ cho nhiều người khác không biết tên; 01 can nhựa màu trắng có một mặt cắt rộng 15cm x 19cm ở gần tay cầm, trên can nhựa có dòng chữ AROMA, đã qua sử dụng; 01 máy tính CASIO LC-403TV, màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 cây viết mực màu xanh, hiệu TL-079, loại 0.5mm, đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện bị cáo Trần Kim L dùng để liên lạc và ghi lại kết quả bán cá trộm được.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 66H1-310.42, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn trắng đen, số máy JF86E2024945, số khung 839YJ0248881 và 01 giấy đăng ký xe số 024047 (Bản gốc); 01 xe mô tô biển kiểm soát 66H1-484.70, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn xanh đen bạc, số máy JA39E2692837, số khung RLHJA3924NY195875 và 01 giấy đăng ký xe số 66000076 (Bản gốc) là tài sản của Nguyễn Thị Thúy D, không biết việc bị cáo Trần Kim L sử dụng để làm phương tiện đi bán cá do Nguyễn Văn T trộm được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý vật chứng, trao trả lại cho Thúy Dy Duy.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 66H1-217.54, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX FI, số máy JA38E0010422, số khung RLHJA3805GY003222, màu đỏ đen và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 66000421 (Bản gốc) do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu.
- 01 USB nhãn hiệu Kingston DT101G2, loại 64GB do anh Phan Văn T1 giao nộp. Bên trong USB chứa dữ liệu gồm 16 đoạn video, theo lời khai anh T1 đây là những video được ghi nhận bởi camera lắp đặt tại bè nuôi cá, ghi lại hình ảnh đối tượng bắt trộm cá tại bè nuôi cá của anh T1 vào các ngày 24, 26, 28, 29, 30/6/2023 và các ngày 02, 04, 06, 07/7/2023; USB được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 2030208 có chữ ký, ghi họ và tên Lê Văn K, Trần Kim L và tên T cùng 02 dấu vân tay màu đỏ.
- Kết luận định giá tài sản số 25/KLHĐĐGTS - TTHS ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 262kg cá cóc, dạng cá thịt, tình trạng cá còn sống, kích cỡ 03 con 4,4kg, trị giá 26.200.000 đồng; định giá 100.000 đồng/01kg, bắt quả tang nên bị cáo thống nhất.
- Kết luận định giá tài sản số 28/KLHĐĐGTS - TTHS ngày 04/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- + 1.301,225kg cá cóc, loại cá thịt từ 600gam đến 01kg, tình trạng cá còn sống, trị giá 104.098.000 đồng; tương đương 80.000 đồng/01kg, bạn hàng và các bị cáo khai giá bán 40.000 đồng/01kg, giấy tờ bị cáo Trần Kim L ghi thể hiện 1.021.225kg và thừa nhận bán cho Nguyễn Thị T5 280kg (không ghi giấy).
- + 189,79kg cá cóc, loại cá thịt từ 1,1 đến 02kg, tình trạng cá còn sống, trị giá 18.979.000 đồng, tương đương 100.000 đồng/kg bị cáo Trần Kim L và bạn hàng mua đều khai giá 45.000 đồng/01kg.
- + 36kg cá chèn bầu, loại cá thịt 10 con/01kg, tình trạng cá còn sống, trị giá 7.200.000 đồng, tương đương 200.000 đồng/01kg, bị cáo L bán cho Ngô Thị H 06kg, bán cho Lâm Thị T6 30kg, giá bán 130.000 đồng/01kg.
- + 111kg cá heo đuôi đỏ, loại cá bố mẹ 20 con/01kg, tình trạng cá còn sống, trị giá 111.000.000 đồng tương đương 1.000.000 đồng/01kg, bị cáo L bán cho Phan Thị Mỹ T4 31kg, bán cho Lâm Thị T6 80kg.
- Kết luận định giá tài sản số 31/KLHĐĐGTS - TTHS ngày 14/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- + 34kg cá heo đuôi đỏ, loại cá thịt 60con/01kg, tình trạng cá còn sống, trị giá 17.340.000 đồng tương đương 510.000 đồng/01kg (Hồng Nhỏ mua 34kg cá còn sống, giá bán 160.000 đồng/01kg;
- + 10kg cá heo đuôi đỏ, loại cá thịt 30con/01kg, tình trạng cá còn sống, trị giá 5.500.000 đồng tương đương 550.000 đồng/01kg (bán cho Hồng N2 cá còn sống giá 90.000 đồng/01kg);
- Kết luận giám định số 879/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Chữ viết, chữ số trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết, chữ số của Trần Kim L trên tài liệu mẫu ký hiệu M do cùng một người viết ra.
- Biên bản kiểm tra điện thoại OPPO màu xanh, có sim số điện thoại 0365.033.xxx của Trần Kim L ngày 12/7/2023 thể hiện:
- + Số điện thoại 0865.770.xxx lưu trong danh bạ là “Cá”, là của chị T5, thời gian các cuộc gọi thể hiện vào một số ngày của tháng 02, tháng 3, tháng 4, tháng 5 năm 2023.
- + Số điện thoại 0966.742.xxx lưu trong danh bạ là “Thắm Cá”, là của chị T4, thời gian các cuộc gọi thể hiện vào một số ngày của tháng 01, tháng 02, tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6, tháng 7 năm 2023.
- + Số điện thoại 0397.634.xxx lưu trong danh bạ là “Mối Cá”, là của anh L2, thời gian các cuộc gọi thể hiện vào một số ngày của tháng 6, tháng 7 năm 2023.
Đây là những người mua cá trộm của các bị cáo, thời gian các cuộc gọi điện thoại là những ngày có giao dịch mua bán cá trộm, có những ngày chỉ hỏi có cá hay không nhưng không xác định ngày bán cá trộm được.
- Biên bản nhận dạng qua hình ảnh ngày 17/8/2023 thể hiện:
- + Phan Thị Mỹ T4, Lâm Thị T6 nhận dạng được Nguyễn Văn T, Trần Kim L là người đem cá đến bán cho T4, T6.
- + Đặng Thanh L2, Ngô Thị H, Trần Thị H1, Nguyễn Thị T5 nhận dạng được Trần Kim L là người đem cá đến bán cho L2, T5, Ngô Thị H và Trần Thị H1.
Tại cơ quan Cảnh sát điều ra Công an huyện H bị hại anh Phan Văn T1 trình bày yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt các lần trộm cắp là 3.645.000.000 đồng, trong đó: Cá cóc là 21.000kg x 105.000 đồng = 2.205.00.000 đồng, cá heo đuôi đỏ là 2000kg x 510.000 đồng = 1.020.000.000 đồng, cá chèn bầu 1.500kg x 280.000 đồng = 420.000.000 đồng nhưng các bị cáo chỉ thống nhất bồi thường thiệt hại tài sản cho anh T1 với số tiền 290.317.000 đồng và tại phiên tòa thống nhất bồi thường một phần với số tiền là 2.000.000 đồng, anh T1 thống nhất nhận số tiền bồi thường thiệt hại về tài sản là 290.317.000 đồng nhưng không đồng ý nhận 2.000.000 đồng từ các bị cáo, phần tiền còn lại anh T1 thống nhất không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim L đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2023.
Xử phạt bị cáo Trần Kim L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên theo luật định.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp chứng cứ mới là sau khi án sơ thẩm tuyên các bị cáo đã bồi thường được 10.000.000 đồng cho bị hại, được bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng cuối năm 2022 bị cáo Nguyễn Văn T nhiều lần sử dụng xuồng máy và lén lúc dùng vợt vớt cá để xúc bắt trộm cá cóc, cá chèn bầu, cá heo đuôi đỏ với tổng khối lượng cá là 1.944,015kg, trị giá 290.317.000 đồng trong bè của anh Phan Văn T1 rồi đem về cho vợ là bị cáo Trần Kim L bán cho các bạn hàng cá gồm Đặng Thanh L2, Phan Thị Mỹ T4, Nguyễn Thị T5, Lâm Thị T6, Trần Thị H1, Ngô Thị H và nhiều người khác không rõ họ tên, địa chỉ đến ngày 07/7/2023 thì bị bắt quả tang.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là cá với khối lượng 1.944,015kg, trị giá 290.317.000 đồng của bị hại Phan Văn T1. Các bị cáo thừa biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, là có tội nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp chứng cứ mới là sau khi án sơ thẩm tuyên các bị cáo đã bồi thường được 10.000.000 đồng cho bị hại, được bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho các bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà án sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là không nặng, hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra và đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L.
[4] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L.
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2023.
Xử phạt bị cáo Trần Kim L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Kim L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 109/2024/HS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 109/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
