Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Đức Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: - ông Vương Tấn Độ;

- bà Nguyễn Thị Hồng Bạch.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trung Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành S, sinh ngày: 19/02/1983, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Số 315 Lô D chung cư N, Phường M, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/12/2023, tạm giữ ngày 14/12/2023, tạm giam từ ngày 23/12/2023 cho đến nay. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 40 phút, ngày 13/12/2023, tại nhà trọ số 95/76 CL, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Bình Tân phát hiện Nguyễn Thành S đang ở phòng không số trong nhà trọ trên có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải của bị can Nguyễn Thành S đang cầm 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. Nguyễn Thành S khai nhận là ma túy đá mua về để sử dụng cho bản thân nên đưa S về trụ sở Công an phường C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Nguyễn Thành S khai nhận số ma túy trên là của một người bạn tên T (Không rõ nhân thân, lai lịch) cho S vào khoảng 19 giờ 35 phút ngày 13/12/2023 tại phòng không số nhà trọ số 95/76 CL, phường C, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để S sử dụng cho bản thân. Sau khi đưa ma túy cho Nguyễn Thành S thì người thanh niên tên T bỏ đi đâu không rõ. Lời khai của Nguyễn Thành S phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

+ 01 (một) gói niêm phong bên trong có ma túy đã giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thành S, Nguyễn Văn S (Người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Kết luận giám định số 11/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4034 gam, loại Methamphetamine.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số thuê bao 0903107740. Bị can Nguyễn Thành S sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Toàn bộ số vật chứng trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân chờ xử lý.

Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành S ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thành S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến gì khác.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo S, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành S phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo S với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng là tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ; trả lại cho bị cáo S 01 điện thoại di động hiệu Nokia có số thuê bao 0903107740. Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp: không đề nghị xem xét.

Bị cáo S không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng: về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 13/12/2023, tại nhà trọ số 95/76 CL, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo có hành vi cất giữ trong lòng bàn tay phải 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là chất ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4034 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt giữ đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 11/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thành S, Nguyễn Văn S (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T (điều tra viên) và hình dấu Công an phường C, quận Bình Tân là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4034 gam, loại Methamphetamine.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,4034 (không phẩy bốn không ba bốn) gam, loại Methamphetamine và thuộc trường hợp “Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có căn cứ nên chấp nhận.

[3] Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bất chấp pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác do đó cần xử lý với mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo S có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo hiện đang bị tạm giam, không có nơi cư trú ổn định và không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 (một) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên bị cáo Nguyễn Thành S, Nguyễn Văn S (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T (điều tra viên) và hình dấu Công an phường C, quận Bình Tân. Hội đồng xét xử xét vật chứng trên là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với: 01 (một) điện thoại đi động hiệu Nokia số thuê bao 0903107740. Hội đồng xét xử xét điện thoại trên là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần giao trả cho bị cáo.

[6] Đối với người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) cho Nguyễn Thành S số ma túy trên, do chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: bị cáo Nguyễn Thành S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên bị cáo Nguyễn Thành S, Nguyễn Văn S (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T (điều tra viên) và hình dấu Công an phường C, quận B.

- Giao trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành S 01 (một) điện thoại đi động hiệu Nokia số thuê bao 0903107740.

(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK24/130TV ngày 04/4/2024).

3. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Thành S phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Q. Bình Tân;
  • - CQCSĐT Công an Q. Bình Tân;
  • - CQ THAHS Công an Q. Bình Tân;
  • - Phòng PV06- Công an TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS Q. Bình Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger