Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày: 15 - 7 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Thanh Tâm

Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Minh Đ, sinh năm 1999 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký thường trú: số D, Lô C, Chung cư Â, phường E, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: số nhà C, đường N, tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Văn B, sinh năm 1961 và bà Phan Thanh T, sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay.

- Người chứng kiến: Bà Phan Thanh T, sinh năm 1960

Nơi đăng ký thường trú: số 403, Lô C, Chung cư Âu Cơ, phường 5, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở: số nhà 366, đường Ngô Quyền, tổ 11, khu phố 4, phường Xuân Thanh, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

(Tất cả có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Minh Đ là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 08 năm 2023 cho đến nay, loại ma túy Đ sử dụng là M (thường gọi là ma túy Đá). Ngày 24/01/2024, qua bạn bè giới thiệu, Lê Minh Đ đến khu vực “Cua Heo”, thuộc phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai gặp một người đàn ông tên Đ, khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 bịch nylon chứa ma túy Đá với giá 800.000 đồng. Sau đó, Lê Minh Đ đem ma túy vừa mua được về phòng trọ số 03, nhà trọ “Bà L”, địa chỉ: tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cất giấu để sử dụng.

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 26/01/2024, tại phòng trọ số C, nhà trọ “Bà L”, địa chỉ: tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Lê Minh Đ lấy bịch ma túy ra sử dụng một ít, số ma túy còn lại Đ cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thành phố L phối hợp với Công an phường X tiến hành kiểm tra phòng trọ số 03, nhà trọ “Bà L” mà Đ đang thuê. Biết không thể che giấu được, Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 01 bịch nylon chứa ma túy Đá đang cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy Đá và 01 bật lửa đang để trong tủ gỗ trong phòng. Công an thành phố L đã tiến hành niêm phong, thu giữ toàn bộ vật chứng trên theo quy định của pháp luật. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Lê Minh Đ ngày 26/01/2024: Dương tính với MET (ma túy Đá).

Trong quá trình điều tra, Lê Minh Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, Đ còn khai nhận đã mua ma túy của Phạm Thanh T1 và Huỳnh Hồng Thiên A được 05 lần tại khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, tích cực hợp tác với Cơ quan Cảnh sát điều tra qua đó đã bắt, khởi tố, điều tra đối với T1 và A trong một vụ án khác.

Tại bản kết luận giám định số 244/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là Ma túy, có khối lượng: 1,2391 gam, loại Methamphetamine.

* Vật chứng thu giữ và xử lý:

+ 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất ma túy, 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy Đá và 01 bật lửa. Toàn bộ số vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh để phục vụ công tác xét xử theo quy định.

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu xanh của Đ không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại chiếc điện thoại trên cho đại diện gia đình Đ là bà Phan Thanh T.

Tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKSLK ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Lê Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • * Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận
  • * Người chứng kiến: tôi là mẹ ruột của bị cáo Lê Minh Đ, Đ sống cùng vợ chồng tôi tại nhà trọ bà L, việc Đ nghiện ma túy thì vợ chồng tôi không hề hay biết; ngày 26/01/2024 Công an vào kiểm tra nhà trọ và phát hiện Đ có tàng trữ ma túy và thu giữ tang vật là đúng; trong cuộc sống Đ đi làm đều có phụ giúp vợ chồng tôi, Đ là người con có hiếu, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Đ.
  • * Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: 01 năm đến 01 năm 06 tháng năm tù giam.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 244/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Đ, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy và 01 bật lửa.
  • * Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói sau cùng: Bị cáo nhận ra sai lầm của mình, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người chứng kiến vắng mặt nhưng cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 26/01/2024, tại phòng trọ số C, nhà trọ “Bà L”, địa chỉ: tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Công an thành phố L phối hợp với Công an phường X phát hiện, bắt quả tang Lê Minh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,2391 gam với mục đích để sử dụng.

Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Minh Đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo:

Bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo ý thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo lại sống lêu lỏng tự đưa mình vào nghiện ma túy; bị cáo đã có hành vi tàng trữ để có ma túy sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà Nước, gây tác hại đến sức khỏe, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội, hơn nữa ma túy còn là tác nhân, tiền đề cho những loại tội phạm khác.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng mức án nghiêm buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Đối với đối tượng tên “Đ”, khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Lê Minh Đ hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 244/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Đ, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy và 01 bật lửa.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Đ 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Minh Đ để đảm bảo thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 244/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Đ, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy và 01 bật lửa. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Minh Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - THADS TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Le Minh Dức Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger