TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HS-ST
Ngày: 15 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phước
- Ông Hồ Minh Quang
Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Hướng – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Hoàng T; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986, tại: thành phố Cần Thơ; nơi thường trú: khu vực T, phường L, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: tài xế; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 3/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không biết và bà Trần Thị Ngọc L (bị cáo khai tại phiên toà); bị cáo khai tại phiên toà đang sinh sống như vợ chồng với Lê Thị Huỳnh N và có 01 người con, sinh năm 2022; tiền sự: không; tiền án: không; về nhân thân: vào ngày 11/12/2014 bị Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi ném ly bia, vỏ bia vào người khác, đã nộp phạt xong vào ngày 11/12/2014 đến lần phạm tội này đã xoá tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04 tháng 01 năm 2024 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Trần Công H; sinh năm 1987; địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 03/01/2023, bị cáo Trần Hoàng T, đang làm việc tại bãi giữ xe L, đường Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, thì có một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) điều khiển xe mô tô đến thuê T vận chuyển thuốc lá từ tỉnh Long An về giao cho khách tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với số tiền công là 2.000.000 đồng, thì T đồng ý. Sau đó, T thuê xe ô tô tải biển số 65C-176.14 của ông Trần Công H để vận chuyển thuốc lá. Sau khi thuê được xe ô tô, T điều khiển đến đường N, thuộc tỉnh Long An và được một người đàn ông điều khiển xe mô tô hướng dẫn T đến đậu xe tại khu vực lề đường vắng. Sau khi đậu xe, T được người này hướng dẫn đi đến một quán cà phê gần đó nằm nghỉ và đợi bốc thuốc lá lên xe. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, người dẫn đường cho T biết thuốc lá đã chất lên xe và kêu T qua điều khiển xe ô tô về giao cho khách. Sau đó, T điều khiển xe ô tô chứa thuốc lá về giao cho khách ở thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; khi T điều khiển xe ô tô đến khu vực cầu K, đường V, Khóm E, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an thành phố S và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - chức vụ Công an thành phố S tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe ô tô tải biển số 65C-176.14 do T điều khiển có 75 bọc nylon màu đen, bên trong các bọc nilon này có 22.500 bao thuốc lá không có nguồn gốc xuất xứ (gồm 10.500 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 9.000 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 3.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT).
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ 22.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 10.500 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 9.000 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 3.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT); 75 cái bọc nilon màu đen; Một xe ô tô tải màu xanh, biển số 65C-176.14; một giấy chứng nhận kiểm định số DB0132193; một giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 65005960, một giấy biên nhận thế chấp số 4145901/VIB/665 ngày 01/01/2024; một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu đen, bên trong có sim số 0906.944.466 và một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, bên trong có sim số 0939.444.667. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã làm rõ và giao trả cho ông Trần Công H1 xe ô tô biển số 65C-176.14 cùng các giấy tờ có liên quan đến xe ô tô.
Cáo trạng số 96/CT-VKS-TPST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Vận chuyển hàng cấm”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Hoàng T; xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ 22.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 10.500 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 9.000 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 3.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT); 75 cái bọc nilon màu đen.
Trả lại cho bị cáo: một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu đen, bên trong có sim số 0906.944.466 và một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, bên trong có sim số 0939.444.667
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và trình bày nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
[2] Nhận thấy, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: vào ngày 04/01/2024, bị cáo Trần Hoàng T đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 65C-176.14 vận chuyển 22.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 10.500 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 9.000 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 3.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT) từ tỉnh Long An về thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giao cho một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể). Khi đến khu vực cầu K, đường V, Khóm E, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thì bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trần Hoàng T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, ảnh hưởng đến việc kinh doanh chính đáng của người khác và làm mất trật tự an toàn xã hội, nên cần xử lý nghiêm. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[4] Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình cũng cần phải xem xét đến nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[4.1] Về nhân thân: vào ngày 11/12/2014 bị Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi ném ly bia, vỏ bia vào người khác, đã nộp phạt xong vào ngày 11/12/2014.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với vật chứng: 22.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 10.500 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 9.000 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 3.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT); 75 cái bọc nilon màu đen đây là hàng cấm, phương tiện dùng vào việc phạm tội và vật không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
[5.2] Đối với vật chứng: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu đen, bên trong có sim số 0906.944.466 và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, bên trong có sim số 0939.444.667 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.
[6] Từ những phân tích trên thấy rằng, Cáo trạng số 96/CT-VKS-TPST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Vận chuyển hàng cấm”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội và không oan sai cho bị cáo.
[7] Về án phí sơ thẩm: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
[10] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên: về tội danh, áp dụng pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 1 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
1. Xử phạt: bị cáo Trần Hoàng T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu huỷ 22.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 10.500 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 9.000 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 3.000 bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT) và 75 cái bọc nilon màu đen.
2.2 Trả lại cho bị cáo Trần Hoàng T: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu đen, bên trong có sim số 0906.944.466 và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, bên trong có sim số 0939.444.667.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Trần Hoàng T phải chịu án phí 200.000 đồng
4. Bị cáo Trần Hoàng T, ông Trần Công H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Thanh Bình |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hoàng Thái - Phạm tội "vận chuyển hàng cấm"
