|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày 09-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Dương và ông Hà Quang Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn T, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày 23 tháng 10 năm 1992, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn D, sinh năm 1956 và bà Lường Thị P, sinh năm 1965; có vợ Lò Thị P1, sinh năm 1995 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 19/01/2024, tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho đến nay, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị B – Luật sư, thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 20 phút, ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Công an huyện T bắt quả tang Lường Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Lường Văn T 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, dạng bột nghi ma túy (loại Heroine).
Ngày 10/01/2024 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: Chất màu trắng dạng cục, bột thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,13 gam. Gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 254/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục, bột khối lượng 0,13 gam thu giữ của Lường Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn T khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 10/01/2024 tại bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, bị cáo T mua được của một phụ nữ không biết họ, tên, địa chỉ, 01 (một) gói Heroine gói bằng nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Việc mua bán chỉ có bị cáo và người phụ nữ đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được ma túy bị cáo cất giấu trong lòng bàn tay phải đi bộ về nhà, khi về đến nhà bị cáo T để gói heroine trên mặt bàn cạnh giường ngủ. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ở nhà thì tổ công tác Công an huyện T đến nhà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số: 69/CT-VKSTG ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Lường Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lường Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine còn lại, 01 (một) mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn T.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với Cáo trạng truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và cân nhắc tính chất, mức độ cho bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; không phạt bổ sung bằng tiền, miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không có ý kiến bổ sung vào lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 11 giờ 20 phút ngày 10/01/2024, tại nhà bị cáo Lường Văn T, bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Lường Văn T bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,13 (không phẩy mười ba) gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi và khối lượng Heroine bị cáo cất giấu trái phép thì bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội, vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo, giúp bị cáo cai nghiện ma túy và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
- Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,1 gam Heroine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo là vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- Án phí: Bị cáo Lường Văn T là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ, đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 10/01/2023. Do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
-
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 0,1 (không phẩy một) gam Heroine.
- 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu trắng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
-
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lường Văn T được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Lường Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn T - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
