Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08 – 7 – 2024

V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạn

2. Bà Trần Thị Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1052/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lò Thị M, sinh năm 1998 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Nơi ở hiện nay: Số A thôn I, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lò Thị M trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Hoàng H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, TP ., tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/4/2016. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng kéo dài và chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 11/2023. Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Hoàng H nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.

Về con chung: Tôi và ông Nguyễn Hoàng H có ba con là cháu Nguyễn Ánh Ngọc N, sinh ngày 12/10/2016; Nguyễn Huy Đ, sinh ngày 03/5/2018 và Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh ngày 25/11/2020. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N, cháu Đ và cháu H1 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và ông Nguyễn Hoàng H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Hoàng H vắng mặt không tham gia tố tụng.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án, thời hạn xét xử đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 97, từ Điều 171 đến Điều 175, Điều 177, Điều 203, Điều 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lò Thị M.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lò Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.

Về con chung: Giao cho bà Lò Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Nguyễn Ánh Ngọc N, sinh ngày 12/10/2016; Nguyễn Huy Đ, sinh ngày 03/5/2018 và Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh ngày 25/11/2020 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà Lò Thị M không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Bà Lò Thị M phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Lò Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung giữa bà với ông Nguyễn Hoàng H, đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng H có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Hoàng H nhưng ông Nguyễn Hoàng H không tham gia tố tụng, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Hoàng H vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lò Thị M và ông Nguyễn Hoàng H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, TP ., tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/4/2016, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống bà Lò Thị Minh xác đ vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng kéo dài và đã sống ly thân từ tháng 11/2023. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Hoàng H nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.

Kết quả xác minh tại địa phương xác định: Bà Lò Thị M và ông Nguyễn Hoàng H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Bà Lò Thị M và ông Nguyễn Hoàng H đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Lò Thị M và ông Nguyễn Hoàng H có xảy ra, đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn. Bà Lò Thị M đã cương quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H, vì vậy nếu kéo dài quan hệ hôn nhân thì không đạt được mục đích của hôn nhân. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lò Thị M, giải quyết cho bà Lò Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Bà Lò Thị M và ông Nguyễn Hoàng H có ba con là cháu Nguyễn Ánh Ngọc N, sinh ngày 12/10/2016; Nguyễn Huy Đ, sinh ngày 03/5/2018 và Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh ngày 25/11/2020. Khi ly hôn bà Lò Thị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Xét thấy các cháu hiện nay còn nhỏ và đang ở cùng bà Lò Thị M, đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý. Vì vậy việc giao 03 con chung cho bà Lò Thị M trực tiếp chăm sóc sẽ tốt cho sự phát triển của các cháu và phù hợp với nguyện vọng của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Giao cho bà Lò Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Nguyễn Ánh Ngọc N, Nguyễn Huy ĐNguyễn Thị Mỹ H1 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lò Thị M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lò Thị M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Lò Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lò Thị M.

  1. Về quan hệ hôn nhân:Lò Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.
  2. Về con chung: Giao cho bà Lò Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Nguyễn Ánh Ngọc N, sinh ngày 12/10/2016; Nguyễn Huy Đ, sinh ngày 03/5/2018 và Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh ngày 25/11/2020 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

    Ông Nguyễn Hoàng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lò Thị M không yêu cầu nên không giải quyết.

  3. Về tài sản chung và nợ chung:Lò Thị M không yêu cầu nên không giải quyết.
  4. Về án phí:Lò Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số AA/2023/0004514 ngày 07/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. BMT; Tỉnh;
  • - CCTHADS TP. BMT;
  • - UBND xã Hoà Phú, TP. BMT, tỉnh Đắk Lắk (Giấy chứng nhận kết hôn số 53/TLKH ngày 15/4/2016;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đại Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 109/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger