|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 05-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Cao
Bà Nguyễn Thị Oanh Thy
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Sók Thanh K, tên gọi khác: không, sinh ngày 07/9/2006, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Sók Thị Kim T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Sók Thanh K 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/6/2022, (không có án tích thuộc trường hợp tại thời điểm bị kết án Sók Thanh K chưa đủ 16 tuổi).
Bản án số 82/2023/HS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2024, (không có án tích thuộc trường hợp tại thời điểm bị kết án Sók Thanh K chưa đủ 18 tuổi).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/7/2024 đến ngày 24/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện B. (có mặt).
2. Huỳnh Văn Vũ B, tên gọi khác: Không, sinh ngày 08/01/2005, tại Bến Tre; Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn Bảo X và bà Bùi Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án số 80/2022/HS-ST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Huỳnh Văn Vũ B 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/02/2023 (không có án tích thuộc trường hợp tại thời điểm bị kết án Huỳnh Văn Vũ B chưa đủ 18 tuổi).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/7/2024 đến ngày 24/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện B. (có mặt).
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Sók Thanh K: Sók Thị Kim T, sinh năm 1989 (Vắng mặt) ;
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Người bào chữa cho bị cáo Sók Thanh K: Bà Nguyễn Thị Anh T1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (Có mặt)
- Bị hại: Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1994 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Huỳnh Hữu Đ, sinh năm 1993 (Vắng mặt);
- Lê Văn P, sinh năm 1993 (Vắng mặt);
- Phạm Văn T3, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
- Nguyễn Thị Hồng T4, sinh năm 1973 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Số B, ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 14/7/2024, Sók Thanh K, sinh ngày 07/9/2006 và Huỳnh Văn Vũ B chơi game ở Khu phố C, thị trấn B, huyện B, do chơi game thua hết tiền nên K rủ B đi trộm tài sản bán lấy tiền chơi game bắn cá, thì B đồng ý.
Bằng điều khiển xe mô tô biển số 85D1-577.43 chở K đi tìm tài sản để trộm. Khi đi ngang Nhà trọ 351, địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện B, B nhìn thấy cổng nhà trọ mở, ngoài hành lang có 02 chiếc xe dựng không người trông coi, B dừng xe trước nhà trọ, K ở ngoài cảnh giới, B đi bộ mở cổng rào nhà trọ đến phòng số 02 do anh Nguyễn Hoài T2 thuê trọ thấy trước cửa phòng có xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS màu đỏ, đen bạc, biển số 62U1-1514 dựng cặp vách tường, xe không khóa cổ, B đi lại lấy xe mô tô biển số 62U1-1514 dẫn ra khỏi nhà trọ giao cho K, K lên xe mô tô biển số 62U1-1514 bút dây max nổ máy xe, B điều khiển xe mô tô 85D1-577.43, cả hai chạy đến tiệm game không rõ tên tại xã T gặp Huỳnh Hữu Đ, K mượn điện thoại của Đ gọi cho Lê Văn P cầm xe 62U1-1514, do chỗ bạn bè quen biết nên P đồng ý cầm xe mà không hỏi nguồn gốc xe. Sau đó, B điều khiển xe mô tô 85D1-577.43, K điều khiển xe mô tô 62U1-1514 đến chỗ P cầm được 2.700.000đ, B lấy 1.800.000đ, K lấy 900.000₫ chơi game hết. Sáng ngày 15/7/2024 anh T2 ngủ dậy phát hiện mất xe nên đến Công an xã L trình báo. Ngày 18/7/2024, K và B bị công an xã mời đến làm việc thì khai nhận toàn bộ vụ trộm xe anh T2.
Ngoài ra, quá trình điều tra, K và B còn khai nhận thực hiện 01 vụ trộm xe mô tô biển số 51V3-4384 trên địa bàn huyện C, Cơ quan CSĐT Công an huyện B có văn bản trao đổi giải quyết vụ việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện C theo quy định.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B thu giữ vật chứng và xử lý vật chứng như sau:
- 01 xe mô tô biển số 62U1-1514 do Lê Văn P giao nộp, qua xác minh xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hoài T2, hiện Cơ quan điều tra đã trả cho anh T2;
- 01 xe mô tô biển số 85D1-577.43 không có số khung, số máy của Huỳnh Văn Vũ B sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua xác minh biển số 85D1-577.43 do Phạm Văn T3 đứng tên sở hữu bị Cảnh sát giao thông Quận C, TP H tạm giữ do vi phạm giao thông. Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐG ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS màu đỏ, đen bạc, biển số 62U1-1514 có giá trị là 5.500.000đ.
Tại Bản Cáo trạng số 107/CT-VKSBL ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận định giá, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Sók Thanh K, Huỳnh Văn Vũ B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91, 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Bị cáo Sók Thanh K mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Bị cáo Huỳnh Văn V Bằng mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 xe mô tô biển số 62U1-1514 do Lê Văn P giao nộp, qua xác minh xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hoài T2, hiện Cơ quan điều tra đã trả cho anh T2 nên không đề nghị xem xét.
- 01 xe mô tô biển số 85D1-577.43 không có số khung, số máy của Huỳnh Văn Vũ B sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua xác minh biển số 85D1-577.43 do Phạm Văn T3 đứng tên sở hữu bị Cảnh sát giao thông Quận C, TP H tạm giữ do vi phạm giao thông. Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, bị hại Nguyễn Hoài T2 đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển số 62U1-1514 nên không yêu cầu dân sự; Lê Văn P không yêu cầu Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Đối với Huỳnh Hữu Đ và Lê Văn P không biết xe mô tô là do B và K do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp nhưng kiến nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện B làm công tác giáo dục đối với Đ và P.
Về án phí: Buộc các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Người bào chữa cho bị cáo Sók Thanh K là bà Nguyễn Thị Anh T1 trình bày: Thống nhất về tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã đề nghị đối với bị cáo Sók Thanh K và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự và Chương XII những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cho bị cáo Sók Thanh K được hưởng mức án nhẹ nhất.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với Bản ảnh hiện trường; phù hợp với bản kết luận về định giá tài sản số 84/KL-HĐĐG, ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Long An và phù hợp với nội dung Bản cáo trạng: Thấy rằng, các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B là những người có tuổi đời còn trẻ, có đủ sức khỏe để học tập và lao động kiếm tiền nuôi sống bản thân, nhưng các bị cáo lại lười lao động, chỉ vì mục đích cá nhân muốn có tiền tiêu xài không phải bỏ công sức nên các bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân cụ thể: Khoảng 21 giờ ngày 14/7/2024, bị cáo Sók Thanh K rủ bị cáo Huỳnh Văn Vũ B đi trộm tài sản bán lấy tiền chơi game thì bị cáo B đồng ý. Bị cáo B điều khiển xe mô tô biển số 85D1-577.43 chở bị cáo K đến Nhà trọ 351, địa chỉ Ấp V, xã L, huyện B, các bị cáo B và K lén lút trộm xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS màu đỏ, đen bạc, biển số 62U1-1514 trị giá 5.500.000đ của anh Nguyễn Hoài T2 dựng trước phòng số 02 nhà trọ, sau đó các bị cáo B và K cầm xe vừa trộm được cho Lê Văn P được 2.700.000đ chia nhau chơi game hết.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn không có phân công vai trò mà cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội cho đến khi bị bắt. Các bị cáo có nhân thân đã từng bị kết án về hành vi “trộm cắp tài sản” nhưng không ăn năn hối cải tu tâm làm lại cuộc đời mà lại tiếp tục phạm tội hành vi tương tự nên hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù và mức hình phạt đối với các bị cáo Sók Thanh K, Huỳnh Văn Vũ B là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Sók Thanh K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Tuy nhiên, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 01 xe mô tô biển số 62U1-1514 do Lê Văn P giao nộp, qua xác minh xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hoài T2, hiện Cơ quan điều tra đã trả cho anh T2 nên không đề cập xem xét.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 85D1-577.43 không có số khung, số máy của Huỳnh Văn Vũ B sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua xác minh biển số 85D1-577.43 do Phạm Văn T3 đứng tên sở hữu bị Cảnh sát giao thông Quận C, TP H tạm giữ do vi phạm giao thông. Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp nên không đề cập xem xét.
[10]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hoài T2 đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển số 62U1-1514 xong không yêu cầu dân sự; anh Lê Văn P không yêu cầu các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B bồi thường nên không đề cập xem xét.
[11]. Đối với Huỳnh Hữu Đ và Lê Văn P không biết xe mô tô là do B và K do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp nên không đề cập xem xét.
[12]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91, 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Sók Thanh K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 18/7/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn V Bằng 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 18/7/2024.
2. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B 45 ngày kể từ ngày tuyên án (05/11/2024) để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo Sók Thanh K và Huỳnh Văn Vũ B có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sók Thanh K, Huỳnh Văn Vũ B phạm tội "Trộm cắp tài sản"
