Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 109/2024/HS-PT

Ngày: 05/7/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như.

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Bà Lê Thị Tân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Trần Huy Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:133/2024/QĐXXPT-HS ngày 07/6/2024, đối với:

* Bị cáo bị kháng cáo họ và tên: Bùi Thị Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1986 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị H; Chồng là Nguyễn Văn H1 (đã chết); Gia đình bị cáo có 07 chị em, bị cáo là con thứ 3; Bị cáo có 1 con (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/11/2023 đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại có kháng cáo: Chị Phạm Thị H2; Sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Bùi Anh T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Anh Nguyễn Hữu Q và Bùi Thị Đ có quan hệ quen biết nhau từ trước, sau đó nảy sinh tình cảm yêu đương nam nữ với nhau. Từ khoảng tháng 3 năm 2022, Q thường xuyên đến nhà Đ ở thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa để chơi, ăn ở, ngủ lại tại nhà Đ. Khoảng tháng 5/2022, sau một số lần đến quán tạp hóa của chị Phạm Thị H2 (ở cùng thôn với Đ) để mua nước uống, Quân chủ động xin số điện thoại làm quen với chị H2, sau đó thường xuyên nhắn tin gọi điện nói chuyện với chị H2. Đến khoảng cuối tháng 5/2022 giữa chị H2 và Q nảy sinh mối quan hệ tình cảm với nhau. Hai người thường xuyên liên lạc, quan hệ lén lút với nhau trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 10/2022 (trong khoảng thời gian này Q vẫn duy trì quan hệ yêu đương với Đ và giấu Đ lén lút quan hệ với chị H2). Đến ngày 20/10/2022, khi Bùi Thị Đ bị ốm và nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện T, Q lên Bệnh viện để thăm và chăm sóc cho Đ. Tại đây, Q sử dụng điện thoại Iphone 7 plus màu hồng (có đặc điểm là điện thoại cũ và bị vỡ ở phần màn hình ở phía trên - là điện thoại của Q) gửi tin nhắn Zalo hình ảnh bó hoa qua zalo của H2, H2 nhắn lại: “em cảm ơn”. Sau đó, Q để chiếc điện thoại của mình trên giường bệnh của Đ và ngủ lại tại đây. Do trước đó, Đ là người biết mật khẩu điện thoại của Q nên đã đọc được những nội dung tin nhắn liên quan đến việc ngoại tình giữa Q và H2 trong máy điện thoại của Q. Đến sáng ngày 21/10/2022, Đ nói với Q về việc đã phát hiện ra Quân có quan hệ tình cảm lén lút với Phạm Thị H2 và yêu cầu Q để lại điện thoại của Q (chiếc điện thoại Iphone 7 plus) trên lại cho Đ. Q tháo sim điện thoại (số điện thoại 0978.471.xxx) mang về và để lại chiếc điện thoại trên cho Đ. Đến khoảng hơn 22 giờ, ngày 21/10/2023, Đ sử dụng chiếc điện thoại trên đăng nhập tài khoản zalo của Nguyễn Hữu Q với nội dung tự xưng là vợ của Q và nói đã phát hiện ra mối quan hệ yêu đương lén lút giữa H2 và anh Q và nói việc làm của H2 không thể tha thứ được, tự làm sẽ tự chịu hậu quả. Phạm Thị H2 nhắn tin lại xin lỗi và giải thích về việc không biết là Q đã có vợ rồi (do trước đó Q nói dối H2 là Q chưa có vợ) nhưng không nhận được trả lời. Đến sáng ngày hôm sau, Bùi Thị Đ có nhắn tin cho H2 nói với H2 là Đ đang ở trên Bệnh viện đa khoa huyện T và ở cùng với vợ của Q, Đ đã biết chuyện H2 có quan hệ tình cảm với Q (Đ sử dụng tài khoản facebook messeger của Đ nhắn qua tài khoản messeger của H2). Khoảng vài ngày sau Đ nhắn tin nói với H2 về việc “vợ Q không thể tha thứ việc H2 và Q ngoại tình, vợ Q có đầy đủ bằng chứng qua tin nhắn và video clip H2 và anh Q trong nhà nghỉ”, đồng thời Đ nói về việc vợ Q đề nghị muốn giải quyết nhanh, phải chuyển cho vợ anh Quân số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), nếu không chuyển thì vợ anh Q sẽ đăng hết ảnh và video việc Q và H2 ngoại tình lên mạng xã hội. Do lo sợ việc ngoại tình giữa H2 và Q bị mọi người phát hiện và sợ bị lộ các hình ảnh, video liên quan đến việc ngoại tình với Q lên mạng xã hội, đến ngày 25/10/2022, H2 đã sử dụng tài khoản 9704229202373970677 chuyển đến tài khoản 0781000484961 của Đ số tiền 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm nghìn đồng) bao gồm 10.000.000đ (mười triệu đồng) H2 nhờ Đ đưa cho vợ Q còn 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tiền thăm ốm Đ. Sau đó, khi biết mình bị lừa dối chiếm đoạt tiền nên đến ngày 20/7/2023 chị H2 đã báo cáo đến Công an huyện T.

Quá trình điều tra, Phạm Thị H2 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc USB nhãn hiệu Sandisk, dung lượng 16GB bằng kim loại, một đầu có gắn kim loại màu đen. Cơ quan điều tra tiến hành mở chiếc USB do chị Phạm Thị H2 giao nộp ghi nhận bên trong chiếc USB có chứa 03 (ba) video clip định dạng mp4 và 01 (một) File Word định dạng .docx

Ngày 25/8/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện T Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định phục hồi dữ liệu đối với 02 chiếc điện thoại Iphone do Nguyễn Hữu Q giao nộp; 01 điện thoại Oppo do Bùi Thị Đ giao nộp và giám định các video trong USB do Phạm Thị H2 giao nộp có cắt ghép, chỉnh sửa hay không.

Tại Bản kết luận giám định số 4668/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận :

“1. 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xám, bị hư hỏng, nứt vỡ toàn bộ điện thoại, hiện không khởi động được, không kèm theo sim điện thoại. Không khai thác được dữ liệu trong điện thoại – do điện thoại bị hư hỏng không lên nguồn.

2. 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng, số máy A1921, có IMEI: 357274098658784; IMEI 2: 35727409871804, kèm theo một sim điện thoại có ghi: 8984048000913572281. Tìm thấy 209 (hai không chín) tin nhắn Zalo đã xóa – Thể hiện trong phụ lục.

3. 01 (một) điện thoại di động Oppo Renno5, kiểm máy CPH2159, có IMEI 1: 86554058369099, IMEI 2: 865545058369081, kèm theo một sim điện thoại có ghi: 8984048000324424159. Không tìm thấy dữ liệu điện tử đã xóa.

4. Trong 01 (một) USB gửi giám định:

- Không xác định được nội dung hình ảnh của 02 (hai) tệp video mang tên: "video 1.mp4", "video 2.mp4" có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không do nội dung hình ảnh đã được ghi lại từ màn hình điện thoại khác.

- Phát hiện thấy dấu hiệu chỉnh sửa nội dung, hình ảnh trong tệp video mang tên "Video TikTok.mp4".

Ngày 31/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần N (V) cung cấp thông tin chủ tài khoản và bản kê chi tiết giao dịch của tài khoản số 0781000484961 ngân hàng V. Ngày 04/8/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần N (V) cung cấp thông tin chủ tài khoản số 0781000484961 của Ngân hàng V là Bùi Thị Đ, sinh ngày 20/12/1986, số CCCD: [...] và bản kê giao dịch của tài khoản ngân hàng nói trên từ ngày 01/10/2022 đến ngày 30/12/2022. Quá trình khai thác bản kê giao dịch của tài khoản Ngân hàng V của Bùi Thị Đ xác nhận vào ngày 25/10/2022 tài khoản của Bùi Thị Đ nhận số tiền 10.200.000đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng) từ Phạm Thị H2.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Tập đoàn C cung cấp thông tin liên quan đến số điện thoại 0978.471.xxx (của Nguyễn Hữu Q); số điện thoại 0973.847.xxx (của Phạm Thị H2); số điện thoại 0984.189.xxx (số của Bùi Thị Đ) và số điện thoại 0976.805.xxx (của Đinh Xuân M). Ngày 26/01/2024 Tập đoàn C có công văn cung cấp lịch sử cuộc gọi của các số điện thoại trên.

Quá trình điều tra, Bùi Thị Đ không thừa nhận hành vi cưỡng đoạt tài sản của Phạm Thị H2 và khai báo được Phạm Thị H2 nhờ Đ chuyển số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) cho vợ của Q tên là H3. Sau khi nhận được số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) của H2, Đ đã đưa số tiền mặt 10.000.000đ (mười triệu đồng) cho H3.

Về mối quan hệ với H3, Đ khai H3 là bạn của Đ. Vào thời điểm cuối tháng 10/2022, khi Đ đang bị ốm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện T thì được H3 đến thăm. H3 nói với Đ là H3 phát hiện chồng H3 tên là Q ngoại tình và cho Đ xem đoạn video cuộc gọi Q ngoại tình. Đ xem đoạn video và nhận ra người ngoại tình với Q là Phạm Thị H2, trú cùng thôn với Đ. Sau đó, Đ được H2 chuyển tiền nhờ đưa cho H3 như trên. Quá trình điều tra Đ không chứng minh được người phụ nữ tên H3 bạn Đ là ai, địa chỉ cụ thể ở đâu, liên lạc bằng cách nào. Đ chỉ khai báo là H3 là người ở tỉnh Sơn La, lấy chồng và cư trú tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, có chồng tên là Q. Ngoài ra, Đ không cung cấp được thông tin nào khác của H3. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành xác minh tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả xác minh xác định: Trên địa bàn thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa có 16 công dân có tên Q có độ tuổi từ 23 tuổi trở lên nhưng không có người nào có vợ tên là H3, không có công dân nào tên là H3 lấy chồng tên Q trú tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại là Phạm Thị H2 yêu cầu Bùi Thị Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho H2 tổng số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng), bao gồm 10.000.000đ (mười triệu đồng) đã chuyển cho Đ và 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) là số tiền tổn thất về tinh thần của H2. Tuy nhiên, Đ chưa bồi thường gì cho H2.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ những đồ vật sau: 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng, số máy A1921, có IMEI: 357274098658784; IMEI 2: 35727409871804, kèm theo một sim điện thoại có ghi: 8984048000913572281 của Nguyễn Hữu Q; 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xám, bị hư hỏng, nứt vỡ toàn bộ điện thoại, hiện không khởi động được, không kèm theo sim điện thoại của Nguyễn Hữu Q; 01(một) điện thoại di động Oppo Renno5, kiểm máy CPH2159, có IMEI 1: 86554058369099, IMEI 2: 865545058369081, kèm theo một sim điện thoại có ghi: 8984048000324424159 của Bùi Thị Đ; 01 (một) chiếc USB nhãn hiệu Sandisk, dung lượng 16GB bằng kim loại, một đầu có gắn kim loại màu đen của Phạm Thị H2.

Quá trình điều tra, xét thấy 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng và 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xám, bị hư hỏng của Nguyễn Hữu Q không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trả lại 02 (hai) chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Hữu Q là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) điện thoại di động Oppo Renno5 của Bùi Thị Đ và 01 (một) chiếc USB nhãn hiệu Sandisk của Phạm Thị H2, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSTT, ngày 21/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Bùi Thị Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Bùi Thị Đ thừa nhận hành vi Cưỡng đoạt tài sản của chị Phạm Thị H2 như Viện kiểm sát truy tố.

Bị hại Phạm Thị H2, cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị tăng mức hình phạt và không cho hưởng án treo đối với bị cáo Bùi Thị Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định của pháp luật;

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS. Điều 47, Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586, 592 BLDS; Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Đ phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo, bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/4/2024 (trong hạn luật định), bị hại Phạm Thị H2 kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt và không cho hưởng án treo đối với bị cáo Bùi Thị Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và có giao nộp 01 USB nhưng không yêu cầu giám định. HĐXX tiến hành mở chiếc USB do bị hại giao nộp ghi nhận bên trong chiếc USB có nội dung đối thoại giữa một giọng nam và một giọng nữ. Tuy nhiên tính xác thực của tài liệu bị hại giao nộp chưa được kiểm chứng của cơ quan chuyên môn nên không có căn cứ để xem xét tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Bị hại Phạm Thị H2 nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Phạm Thị H2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị hại Phạm Thị H2 nộp trong thời hạn luật định hợp lệ, được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của Bùi Thị Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo Bùi Thị Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. HĐXX có đủ cơ sở chứng minh: Xuất phát từ việc bị cáo biết được bị hại có quan hệ không trong sáng với bạn trai của mình là anh Nguyễn Hữu Q nên bị cáo đã dùng máy điện thoại của anh Nguyễn Hữu Q vào mạng zalo nhắn tin cho chị Phạm Thị H2 tự xưng là vợ của Q và nói biết việc chị H2 đang có gia đình mà vẫn ngoại tình với anh Q. Sau đó Đ đã dùng tài khoản facebook messenger của mình nhắn tin cho tài khoản messenger của chị H2 và nói vợ của anh Q đã biết việc ngoại tình của chị H2 và anh Q nếu muốn giải quyết thì phải chuyển số tiền 10.000.000₫ nếu không chuyển sẽ đưa tin nhắn và clip ngoại tình lên mạng xã hội. Lo sợ bị gia đình và chồng phát hiện mình ngoại tình ảnh hưởng đến hạnh phúc và danh dự của bản thân và gia đình chị H2 đồng ý chuyển cho Đ số tiền 10.000.000đ. Sau một thời gian sự việc mình ngoại tình vẫn bị Đ tuyên truyền và nói cho chồng chị H2 biết nên chị H2 đã tố cáo hành vi của Đ đến cơ quan pháp luật. Quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa bị cáo Đ thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mô tả. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Thị Đ đã có hành vi đe dọa cưỡng đoạt tài sản của bị hại là chị Phạm Thị H2 với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng). Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 BLHS. VKS truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội Cưỡng đoạt tài sản của bị cáo Bùi Thị Đ là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người hiểu biết chỉ vì chút nông nổi không kìm chế được cảm xúc nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của mình. Khi biết bị hại là người cùng thôn, đã có gia đình nên biết rất rõ bị hại và nhắn tin nhằm uy hiếp tinh thần. Để bị hại tin là vợ của anh Q bị cáo đã nhắn tin đe dọa làm cho bị hại không thể không chuyển tiền nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng) của bị hại.

Hành vi của bị cáo Bùi Thị Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: Cưỡng đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị hại và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:

Xét kháng cáo của bị hại Phạm Thị H2 thấy rằng:

+ Đối với kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với Bùi Thị Đ: Xét tính chất mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thật sự ăn năn hối cải, xin lỗi bị hại, trong quá trình xét xử đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường 10.000.000₫ là số triền bị cáo chiếm đoạt và 5.000.000đ tiền tổn thất tinh thần nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có không tình tiết tăng nặng TNHS. Cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Bùi Thị Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Do đó, kháng cáo của bị hại là không có cơ sở chấp nhận.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo Bùi Thị Đ đã bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại là 5.000.000₫ (năm triệu đồng) được nộp tại biên lai thu tiền số 0001078 ngày 28/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành nên được ghi nhận. Còn lại số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) cần buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại theo bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

[3] Các vấn đề khác:

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Bị hại kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 16/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586, 592 BLDS; Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị H2 được nhận số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo Biên lai thu tiền số 0001078 ngày 28/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho chị H2 số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng).

Về án phí: Bị hại Phạm Thị H2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Phạm Thị H2 có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền Bùi Thị Đ phải bồi thường, nếu Bùi Thị Đ không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì Bùi Thị Đ phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án,

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - Công an H. Thạch Thành .TH;
  • - TAND, VKSND H. Thạch Thành.TH;
  • - Chi cục THA DS H. Thạch Thành.TH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Lê Thị Tố Như

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-PT ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 109/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger