TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HS-PT | Ngày: 03/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 133/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Nam C, do có kháng cáo của bị cáo C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HSST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Nam C, sinh 1973; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1949; Mẹ đẻ: Phạm Thị T, sinh năm 1949; Anh chị em ruột: Có 04 anh em, bị can là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 124 ngày 07/5/2019 của Công an huyện L xử phạt Nguyễn Nam C 750.000 đồng về hành vi đánh nhau. Ngày 10/5/2019, Nguyễn Nam C đã chấp hành xong quyết định trên.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến 26/01/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Nam C, sinh năm 1973, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm nghề bán nước ở vỉa hè trước cổng Công ty Điện lực huyện L thuộc tổ dân phố D, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 16 giờ, ngày 23/01/2024, khi C đang bán nước thì có Vũ Văn H1, sinh năm 1999, trú tại thôn B, xã N, huyện L và Hoàng Văn K, sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L đến uống nước, trong khi uống nước thì H1 có hỏi C về việc có ghi số lô, số đề không, Cao nói có. H1 nói “Đánh cho cháu con đề”. C đồng ý và bảo H1 nhắn tin số đề qua mạng xã hội zalo. Cao cho Hợp số thuê bao điện thoại của mình là 0961.764.xxx để H1 kết bạn qua tài khoản Zalo, tên tài khoản zalo của C là “Nguyễn Cao ", tên tài khoản zalo của Vũ Văn H1 là “Hopkaco”. Hợp nhắn tin nội dung các số đề cần mua là “Tổng: 6 - 1 triệu, tổng 8: 1 triệu: ĐB: 37- 300k: 34-300k: 43-300k: 32-300k: 47- 200k”, có nghĩa là H1 mua số các số đề đặc biệt 37, 34, 43 và 32 với số tiền là 300.000đ/số, số đề 47 là 200.000đ; đánh tổng 6 là nghĩa là H1 mua các số đề 15, 51; 24, 42; 79, 97; 06, 60; 33, 88 với số tiền 1.000.000đ; đánh tổng 8 nghĩa là Hợp mua các số đề 44, 99; 17, 71; 26, 62; 53, 35; 08, 80 với số tiền 1.000.000đ. Sau khi nhận được nội dung tin nhắn trên trên Cao nhắn tin trả lời xác nhận “Ok”, H1 đưa cho C số tiền 3.400.000 đồng. Sau khi H1 mua số đề xong thì Hoàng Văn K hỏi mượn H1 điện thoại để gọi cho bạn đến đón. Sau khi mượn xong thì K nảy sinh ý định ghi số đề của C nên K đặt vấn đề muốn mua số đề với Cao, được C đồng ý. Do K đang cầm điện thoại của H1 nên K đã sử dụng luôn tài khoản zalo của H1 nhắn tin đến tài khoản của C mua các số đề gồm: “Db 34, 43, 42..tổng 1trieu9”, nghĩa là K mua ba số đề 34, 42, 43 với số tiền 1.900.000 đồng. Cao nhận được nội dung tin nhắn và nhắn lại xác nhận “Ok”. Hình thức Cao đánh bạc với K, H1 là hình thức cá cược được thua bằng tiền dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng từ 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày, cụ thể như sau: Đề: Gồm có đề đặc biệt, đề nhất to, ba càng, hai cửa, đánh đề tổng. Đối với đề đặc biệt và nhất to, khách mua hai số cuối của giải đặc biệt hoặc giải nhất to. Sau khi mở thưởng thì đối chiếu với hai số cuối của giải đặc biệt hoặc giải nhất của kết quả xổ số, nếu trùng với hai số cuối của giải đặc biệt hoặc giải nhất thì khách sẽ được trả thưởng gấp 70 lần số tiền bỏ ra ban đầu, nếu không trùng thì khách sẽ mất số tiền bỏ ra ban đầu. Đối với ba càng: khách đánh 3 số cuối của giải đặc biệt và giải nhất, cách thức tính thắng thua cũng như giải đề đặc biệt và nhất to. Đề hai cửa: Khách mua hai số, so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt và nhất to, nếu trúng cả giải đặc biệt và nhất to thì khách được 70 lần số tiền bỏ ra ban đầu, nếu chỉ trúng một trong hai giải đặc biệt hoặc nhất to thì khách chỉ được một nửa số tiền bỏ ra ban đầu nhân với 70 lần, nếu không trúng người chơi bị mất số tiền bỏ ra ban đầu. Đánh đề tổng tức khách mua số có hai chữ số, so với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu số đề khách mua có tổng trùng với tổng hai số cuối của giải đặc biệt thì được trả thưởng gấp 7 lần số tiền bỏ ra ban đầu, nếu không trúng thì mất số tiền chơi. Lô: Khách mua hai số cuối so với hai số cuối của 27 giải kết
quả xổ số kiến thiết Miền Bắc, với mỗi điểm là 23.000đ, nếu hai số khách mua trùng với hai số cuối của 27 giải thì được trả thưởng với mỗi điểm là 80.000đ; nếu số lô trúng nhiều hơn một giải thì sẽ nhân lên, ví dụ 2 giải nhân 2, 3 giải nhân 3... (gọi là trúng 2 nháy, 3 nháy)...nếu không trúng người chơi bị mất số tiền bỏ ra ban đầu. Lô xiên: khách mua hai cặp hai số hoặc 3, 4... (gọi là xiên 2, 3, 4...) so với hai số cuối của 27 giải, nếu trúng xiên hai thì được trả thưởng gấp 10 lần, xiên 3 trả thưởng gấp 40 lần, xiên 4 trả thưởng gấp 80 lần số tiền bỏ ra ban đầu, nếu không trúng người chơi bị mất số tiền bỏ ra ban đầu. Nguyễn Nam C tự cá cược thắng thua với H1 và K, không chuyển số đề cho ai khác. Sau khi C xác nhận việc K ghi số đề thành công thì K đưa cho C số tiền 1.900.000 đồng. Khi C vừa nhận tiền của K đưa cho thì bị tổ công tác Công an huyện L bắt quả tang, thu giữ của Nguyễn Nam C số tiền 7.672.000đ, trong đó 5.300.000₫ là tiền bán lô, đề cho Vũ Văn H1 và Hoàng Văn K, 2.372.000đ là tiền cá nhân của Nguyễn Nam C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A52S, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ; 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ; thu giữ của Vũ Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, vỏ màu xanh đen, đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Nam C ở thôn T, xã T, huyện L. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 23/01/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động đã thu giữ của Nguyễn Nam C và Vũ Văn H1, kết quả kiểm tra xác định có các nội dung tin nhắn mua bán số lô, đề giữa Cao, H1, K ngày 23/01/2024 như đã nêu ở trên. Ngoài ra không có nội dung nào khác liên quan đến hành vi đánh bạc.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Nam C ra trước Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HSST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Nam C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến ngày 26/01/2024.
Phạt: Nguyễn Nam C 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/4/2024 bị cáo Nguyễn Nam C kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Nam C giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm 10.200.000 đồng. Bị cáo có bố mẹ già, hai con nhỏ, vợ đi làm xa đang sống ly thân, nay bị cáo là lao động chính trong gia đình đã được công an xã T xác nhận. Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Nam C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Nam C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Toà án nhận định như sau:
[1].Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy:
[2.1].Về tội danh: Khoảng 16 giờ ngày 23/01/2024, Nguyễn Nam C đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho Vũ Văn H1 và Hoàng Văn K được thua bằng tiền tại khu vực vỉa hè trước công Công ty Đ với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.300.000 đồng. Như vậy, hành vi của Nguyễn Nam C đã đủ yêu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HSST ngày 09/4/2024 xử đối với bị cáo Nguyễn Nam C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2].Về hình phạt chính:
Đối với kháng cáo xin hưởng án treo: Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí. Do vậy cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình đã được Công an xã T xác nhận. Do đó, có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Nam C xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, lại cấp phúc thẩm có tình tiết giảm nhẹ mới. Do vậy, Thẩm phán chủ toạ xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương có thời gian thử thách cùng dù giáo dục bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Nam C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 03/7/2024.
[3].Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nam C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nam C, sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Nam C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 03/7/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Nam C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
Xác nhận bị cáo C đã nộp 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0002719 ngày 19/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Nam C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 109/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 109/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nam C - Đánh bạc
