TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2025/HS-ST Ngày 06-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Cần
- Bà Huỳnh Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hữu, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HS ngày 23/5/2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1997, tại tỉnh Đ; thường trú: Số 534, khu Đ, ấp A, xã L, thành phố B, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị Thúy A; bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001.
Tiền án: Ngày 29/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 11 tháng 28 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 550/2023/HSST;
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 442/2018/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/8/2021.
Ngày 01/10/2024, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, sau chuyển qua tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực thành phố
2
Thủ Dầu Một cho đến nay.
2. Phạm Minh H, sinh năm 1994, tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Số A1/196B, khu phố 1, phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Minh Hg và bà Lê Thị L; vợ không rõ tên, có 02 con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/4/2007 bị Ủy ban nhân dân thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 10/3/2009.
Ngày 08/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 09/2019/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 10/01/2020.
Ngày 27/12/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 712/2024/HSST, bị cáo đang chấp hành án tại Trạm giam Xuân Lộc.
Bị hại: Ông Trương Tuấn K, sinh năm 1988; thường trú: Nhà không số, tổ 4, khu phố Cây Chàm, phường Thạnh Phước, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Minh Hg, sinh năm 1989. Ngụ tại: A1/196B, khu phố 1, phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng L và Phạm Minh H đều là đối tượng nghiện ma túy.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/09/2024, khi L đang ở nhà thì H điều khiển xe mô tô biển số 60AA-383.70 kiểu dáng Wave, màu xanh đến nhà L để chơi. Do thiếu tiền tiêu xài nên H rủ L cùng nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. L đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 60AA-383.70 chở H ngồi sau chạy hướng về thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, khi đến đường đồi 16, thuộc khu phố Cây Chàm, phường Thạnh Phước thì L nhìn thấy 01 căn nhà khóa cửa bên ngoài, L đoán là trong nhà không có người nên dừng xe lại kêu H đứng ngoài giữ xe, cảnh giới, L vào trong để tìm tài sản lấy trộm. L đi lại của và dùng 01 cục đá xanh đập khoảng 4 đến 5 cái làm ổ khóa bung ra, L mở cửa, đi trong thấy có 01 xe mô tô biển số 61E1-78.072 nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu đang để trong nhà. L lục trong tủ sắt kiếm tài sản thì phát hiện chìa khóa xe đang để ở học tủ nên L lấy chìa khóa, nổ máy chạy về hướng thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai, còn H điều khiển xe mô tô biển số 60AA-383.70 đi theo phía sau. Khi về đến nhà của H, L để xe mô tô ở sân, xe do H điều khiển cũng để sát bên. L dùng công cụ tháo biển
3
số và định vị của xe, rồi điều khiển xe chạy ra cầu Tân Vạn thuộc khu phố 3, phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa vứt biển số và định vị xuống sông Đồng Nai. Sau đó, L trở về nhà của H lấy mặt nạ gắn vào xe thì bị Công an phường Tân Vạn kiểm tra hành chính, mời về trụ sở tiến hành làm rõ, tại Cơ quan Công an các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tang vật thu giữ:
- - 01 áo thun không cổ dài tay màu xám phía trên cổ có chữ ikka M
- - 01 quần đùi vải màu xám đen hiệu Polo.
- - 01 nón bảo hiểm màu đen không nhãn hiệu.
- - 01 tua vít dài 26 cm cán bằng nhựa màu nâu.
- - 01 xe moto hiệu Honda Vision màu nâu đỏ không gắn biển số, số khung 5832KY636311, số máy JF86E0355754.
- - 01 áo sơ mi dài tay có cổ màu sọc màu xám ghi kẻ sọc màu xanh nhãn hiệu Lhuaml size M ở phía trong cổ áo.
- - 01 xe hon da hiệu wave alpha, số khung RLHJA3930PY154588 số máy JA70E0227797, biển số 60AA-38.370.
- - 01 quần jean màu đen dài hiệu ROWA VIETNAM ở phía trong thắt lưng ở phía trong thắt lung.
- - 01 nón bảo hiểm màu xám nhãn hiệu nón sơn bị mờ.
- - 01 thẻ nhớ (USB) thu giữ tại nhà ông Phạm Minh H có ghi giữ hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng L và Phạm Minh H.
Theo Kết luận định giá ngày 02/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Tân Uyên, định giá 01 xe mô tô biển số 61E1-78.072 có giá trị là 19.667.000 đồng.
Đối với xe mô tô biển số 61E1-780.72 nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đỏ nâu là tài sản hợp pháp của ông Trương Tuấn Kiệt, ngày 21/10/2024, Công an thành phố Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 3415 trả lại cho ông Trương Tuấn Kiệt, ông Kiệt không có yêu cầu gì thêm.
Đối với xe mô tô biển số 60AA-38.370 nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, số khung RLHJA3930PY154588; số máy JA70E0227797, Phạm Minh H dùng làm phương tiện phạm tội là xe hợp pháp của ông Phạm Minh Hoàng (anh ruột của H), ông Hoàng đưa xe cho H để đi chợ, việc H dùng xe để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, ông Hoàng không biết nên Cơ quan điều tra đề nghị trả lại cho ông Phạm Minh Hoàng.
Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 09 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố:
- - Nguyễn Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, với tình tiết là “Tái phạm nguy hiểm”.
- - Phạm Minh H về tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1
4
Điều 173 Bộ luật hình sự, với tình tiết giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố:
- - Nguyễn Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L mức án từ 03 (ba) ba năm đến (03) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Phạm Minh H về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173; Điều 17 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh H mức án từ 02 (hai) năm đến (02) năm 06 (sáu) tháng tù.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Phạm Mình H, xứ lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị các đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng đã mô tả và truy tố. Phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, ông Phạm Minh Hoàng khai nhận xe mô tô biển số 60AA-38.370 nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, số khung RLHJA3930PY154588 số máy JA70E0227797 là xe hợp pháp của ông Hoàng, Hoàng đưa xe cho H để đi chợ, việc bị cáo H dùng xe làm phương tiện phạm tội ông Hoàng không biết nên ông đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông Hoàng.
Lời nói sau cùng các bị cáo mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm về với gia đình, có cơ hội lài người có ích cho xã hội và cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phạm Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
5
tra và tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/09/2024, tại phường Thạnh Phước, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, 02 bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phạm Minh H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe ô tô biển số 61E1-780.72 nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đỏ nâu của ông Trương Tuấn Kiệt, có giá trị là 19.667.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng L, trước khi phạm tội bị cáo có một tiền án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là”.
- Đối với bị cáo Phạm Minh H phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự với giá trị tài sản trộm cắp từ 2.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi:
Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có nhiều tiền tiêu xài, lại lười biếng lao động mà các bị cáo đã cố tình chiếm đoạt tài sản của bị hại, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt tuy không cao nhưng đã gây mất trật tự, trị an tại địa phương và nhiều hệ lụy xã hội khác mà mọi người dân đều lên án.
Mặc khác, bị cáo Nguyễn Hoàng L đã từng bị Tòa án xét xử về các tội cướp giật tài sản; trộm cắp tài sản và tội tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có, (có tội chưa được xóa án tích); bị cáo Phạm Minh H bị xử lý 02 lần về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt, được quay gia đình về các bị cáo phải biết sửa đổi bản thân nhưng ngược lại lại tiếp tục phạm tội. Điều này chứng tỏ các bị cáo chưa biết chấp hành pháp luật, chưa muốn làm người công dân lương thiện. Vì vậy, lần phạm tội này Hội đồng xét xử sẽ xử phạt bị cáo thật nghiêm để răn đe đối với các bị cáo.
[4] Về tính chất phạm tội tổ chức:
Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ nên không xem là phạm tội có tổ chức. Tuy nhiên, hội đồng xét xử sẽ phân hóa hành vi của từng bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt, bị cáo Phạm Minh H là người khởi xướng, rủ rê; bị cáo Nguyễn Hoàng L là người trực tiếp thực hiện tội phạm nên vai trò của các bị cáo ngang nhau.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo H lúc đầu chối tội, sau đó cơ quan điều tra chứng minh bị
6
cáo phạm tội, thì bị cáo mới thành khẩn khai báo nên mức độ hưởng thấp hơn.
[7] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
[8] Về hình phạt: Xét bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội nghiêm trọng, bị cáo Phạm Minh H phạm tội ít ngiêm trọng, nhưng cả 02 bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo với xã hội bên ngoài một thời gian đủ dài để cải tạo, giáo dục các bị cáo biết quý sức lao động, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và tôn trọng pháp luật.
[9] Về bồi thường dân sự: Bị hại không đã yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.
[10] Vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 60AA-38.370 nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, số khung RLHJA3930PY154588 số máy JA70E0227797 là xe hợp pháp của ông Phạm Minh Hoàng, Hoàng đưa xe cho H để đi chợ, việc bị cáo H dùng xe làm phương tiện phạm tội ông Hoàng không biết nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông Phạm Minh Hoàng.
Đối với vật chứng liên quan khác là: 01 áo thun không cổ dài tay màu xám phía trên phần cổ có chữ ikka M; 01 quần đùi vải màu xám đen hiệu Polo; 01 nón bảo hiểm màu đen không nhãn hiệu; 01 tua vít dài 26 cm cán bằng nhựa màu nâu thu giữ của Nguyễn Hoàng L; 01 áo sơ mi dài tay có cổ màu sọc màu xám ghi kẻ sọc màu xanh nhãn hiệu Lhuaml size M ở phía trong cổ áo; 01 quần jean màu đen dài hiệu ROWA VIETNAM ở phía trong thắt lưng ở phía trong thắt lưng; 01 nón bảo hiểm màu xám nhãn hiệu nón sơn bị mờ thu giữ của Phạm Minh H. Các tài sản trên không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 thẻ nhớ (USB) thu giữ tại nhà ông Phạm Minh H có ghi giữ hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng L và Phạm Minh H là chứng cứ vụ án nên tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ.
[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp ánh phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phạm Minh H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày
7
01/10/2024.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khỏan 1 Điều 51; Điều 17; Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 712/2024/HSST, ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 áo thun không cổ dài tay màu xám phía trên phần cổ có chữ ikka M; 01 quần đùi vải màu xám đen hiệu Polo; 01 nón bảo hiểm màu đen không nhãn hiệu; 01 tua vít dài 26 cm cán bằng nhựa màu nâu của Nguyễn Hoàng L;
- - 01 áo sơ mi dài tay có cổ màu sọc màu xám ghi kẻ sọc màu xanh nhãn hiệu Lhuaml size M ở phía trong cổ áo; 01 quần jean màu đen dài hiệu ROWA VIETNAM ở phía trong thắt lưng; 01 nón bảo hiểm màu xám nhãn hiệu nón sơn bị mờ của Phạm Minh H.
Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, biển số 60AA-38.370; số khung RLHJA3930PY154588 số máy JA70E0227797, cho ông Phạm Minh Hoàng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
5. Về án phí hình sự:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phạm Minh H mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày
8
bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sô |
Bản án số 109/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 109/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Liêm và Phạm Minh Hòa phạm “Tội trộm cắp tài sản”. 1. Về hình phạt: 1.1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Liêm 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2024. 1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khỏan 1 Điều 51; Điều 17; Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Minh Hòa 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 712/2024/HSST, ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2024.
