Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 109/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
  2. Ông Phan Văn Cường.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/6/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trương Văn T, sinh năm 1975; thường trú: Số 520/33/3 Quốc lộ A, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số B đường L, khu phố E, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1972; thường trú: Số E Quốc lộ A, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Căn hộ A408 Chung cư A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Trương Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Văn T và chị Đỗ Thị Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2001 có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại U, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142, quyển số 01/2001, ngày 08/8/2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh

phúc được vài năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên cãi vã. Anh T và chị H đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H không còn nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị H.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống anh T và chị H có 01 con chung tên Trương Ngọc C, sinh ngày 04/6/2003. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn chị Đỗ Thị Ngọc H: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ngày 28/5/2025, Tòa án xác minh tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa anh Trương Văn T và chị Đỗ Thị Ngọc H tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường A và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án anh Trương Văn T không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường A tiến hành hòa giải. Đồng thời, Hội liên hiệp phụ nữ phường A, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ chồng anh Trương Văn T và chị Đỗ Thị Ngọc H. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa anh, chị H1 liên hiệp phụ nữ phường A không biết được.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 06/6/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo

quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Văn T và chị Đỗ Thị Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường U, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142, quyển số 01/2001, ngày 08/8/2001, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nguyên đơn anh Trương Văn T xác định quá trình chung sống anh, chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất. Anh T và chị H đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay, anh T xác định không còn tình cảm với chị H nên yêu cầu được ly hôn.

Xét thấy, Tòa án đã triệu tập chị Đỗ Thị Ngọc H có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến nhằm hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị H không đến và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh T. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cả hai bên đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, anh T yêu cầu được ly hôn với chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống anh T và chị H có 01 con chung tên Trương Ngọc C, sinh ngày 04/6/2003. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.

[3] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trương Văn T phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 227, Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Văn T đối với bị đơn chị Đỗ Thị Ngọc H về việc tranh chấp ly hôn.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Văn T được ly hôn với chị Đỗ Thị Ngọc H [Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142, quyển số 01/2001 do Ủy ban nhân dân Phường U, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/8/2001].
    2. Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
    3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
  2. Về án phí: Anh Trương Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008387 ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP. Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 109/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T - Đỗ Thị Ngọc H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger