|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 6 – 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Đình Trung
- Ông Nguyễn Đức Trung
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Trần Tố Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2025/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà H Đim K, sinh năm 1983 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Y Thi A, sinh năm 1984 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà I, đường N, Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn, bà H Đim K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Y Thĩ A tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 10/7/2007.
Sống chung hạnh phúc một thời gian đầu thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, chúng tôi đã ly thân từ tháng 7 năm 2017 cho tới nay, năm 2018 ông Y T về nhà mẹ đẻ tại Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk sinh sống cho tới nay, không còn khả năng đoàn tụ nên tôi có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Y Thĩ.
Về con chung: Chúng tôi có 04 con chung là H Tâm Kbuôr, sinh ngày 16/5/2007; Y Kiên K1, sinh ngày 11/6/2009; H Như Kbuôr, sinh ngày 03/02/2012; H Ria Kbuôr, sinh ngày 11/9/2016, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 4 con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Y Thĩ A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà H Đim Kbuôr tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 10/7/2007.
Sống chung hạnh phúc một thời gian đầu thì đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do mâu thuẫn về kinh tế, không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ tôi có mối quan hệ với người khác, chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Tôi xác định không còn tình cảm với vợ nên đồng ý ly hôn với bà H Đim K.
Về con chung: Chúng tôi có 04 con chung là H Tâm Kbuôr, sinh ngày 16/5/2007; Y Kiên K1, sinh ngày 11/6/2009; H Như Kbuôr, sinh ngày 03/02/2012; H Ria Kbuôr, sinh ngày 11/9/2016
Hiện nay, các con chung đang ở với bà H Đim K.
Nguyện vọng của tôi về con chung là đồng ý giao con cho bà H Đim Kbuôr nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cử và hòa giải cho ông Y Thĩ A nhưng ông Y Thĩ A vẫn vắng mặt, không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ trông chấp, đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà H Đim K.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà H Đim Kbuôr được ly hôn với ông Y Thĩ A.
- - Về con chung: Giao các con chung H Tâm Kbuôr, sinh ngày 16/5/2007; Y Kiên K1, sinh ngày 11/6/2009; H Như Kbuôr, sinh ngày 03/02/2012; H Ria Kbuôr, sinh ngày 11/9/2016 cho bà H Đim Kbuôr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.
- Ông Y Thĩ A có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà H Đim Kbuôr yêu cầu ly hôn với ông Y Thĩ A, địa chỉ cư trú tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Y Thĩ A vẫn vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn bà H Đim Kbuôr có Đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H Đim Kbuôr và ông Y Thĩ A kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/7/2007 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bà H Đim K và ông Y Thĩ A chung sau khi về chung sống với nhau thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2017 cho tới nay. Bà H Đim Kbuôr xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với ông Y Thĩ A. Ông Y Thĩ A xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn về kinh tế, không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ có mối quan hệ với người khác, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết:
“Ông Y Thĩ A, sinh năm 1984 có sinh sống tại địa chỉ Số nhà I, đường N, buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đây là nhà bố mẹ đẻ của ông Y Thĩ. Sau khi ly thân với vợ là bà H Đim thì ông Y T về tại địa chỉ trên cho tới nay”
Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, dẫn đến mâu thuẫn cuộc sống kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H Đim K, cho bà H Đim Kbuôr được ly hôn với ông Y Thĩ A.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H Đim K và ông Y Thĩ A có 04 con chung là H Tâm Kbuôr, sinh ngày 16/5/2007; Y Kiên K1, sinh ngày 11/6/2009; H Như Kbuôr, sinh ngày 03/02/2012; H Ria Kbuôr, sinh ngày 11/9/2016. Hiện nay, các cháu đang ở với bà H Đ. Quá trình giải quyết vụ án, bà H Đim có nguyện vọng xin được nuôi cả 04 con chung và các cháu cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ, ông Y Thĩ A cũng đồng ý giao các con chung cho vợ nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay các con chung là H Tâm Kbuôr, sinh ngày 16/5/2007; Y Kiên K1, sinh ngày 11/6/2009; H Như Kbuôr, sinh ngày 03/02/2012; H Ria Kbuôr, sinh ngày 11/9/2016 đang ở với bà H Đim Kbuôr. Vì vậy, cần tiếp tục giao các con chung: H Tâm Kbuôr, sinh ngày 16/5/2007; Y Kiên K1, sinh ngày 11/6/2009; H Như Kbuôr, sinh ngày 03/02/2012; H Ria Kbuôr, sinh ngày 11/9/2016 cho bà H Đim Kbuôr nuôi dưỡng là phù hợp. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao các con chung cho bà H Đim Kbuôr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà H Đim K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, bị đơn ông Y Thĩ A không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Đim Kbuôr.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà H Đim Kbuôr được ly hôn với ông Y Thĩ A.
-
Về con chung:
Giao các con chung là H Tâm Kbuôr, sinh ngày 16/5/2007; Y Kiên K1, sinh ngày 11/6/2009; H Như Kbuôr, sinh ngày 03/02/2012; H Ria Kbuôr, sinh ngày 11/9/2016 cho bà H Đim Kbuôr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Ông Y Thĩ A có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Bà H Đim Kbuôr phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001102 ngày 21/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 109/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 109/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
