Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG


Bản án số: 109/2025/HNGĐ-ST

Ngày 22 tháng 12 năm 2025

“V/v Tranh chấp về hôn nhân gia

đình ly hôn”

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn và ông Huỳnh Văn Nam.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Duy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 176/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 360/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 385/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lâm Thị G, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số A khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Tổ B, khóm B, phường B, tỉnh An Giang; vắng mặt;

  • - Bị đơn: Ông Phan Quốc H, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số A khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lâm Thị G trình bày, Bà G và ông H tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 23/6/2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn hạnh phúc và tiếng nói chung. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà G yêu cầu ly hôn với ông H.

  • + Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  • + Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Phan Quốc H vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nên không ghi nhận H ý kiến.

Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà G là: đơn khởi kiện, bản tự khai, giấy chứng nhận kết hôn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sợ vụ án.

Tại phiên tòa:

  • - Bà Lâm Thị G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

  • - Ông Phan Quốc H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, không có lý do.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về việc tuân theo phép luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:

Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị G; về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị G được ly hôn với ông Phan Quốc H; về con chung: Không có nên không giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Điều 9, 19, 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bà Lâm Thị G khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Quốc H, ông H đang cư trú tại địa bàn phường L, tỉnh An Giang, nên việc bà G khởi kiện yêu cầu ly hôn, không yêu cầu về tài sản chung, nợ chung với ông H là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án, cũng như xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.

[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự theo quy định, quá trình giải quyết vụ án bà G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông H không có mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Lâm Thị G tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án xác định hôn nhân là do quen biết nhau, khi kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân giữa bà với ông H được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn trong hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy: theo lời trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai, ghi nhận ý kiến của bà G trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thì giữa bà G và ông H đã có thời gian không sống chung, không còn quan hệ vợ chồng từ năm 2016 đến nay, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H, cũng như đã tống đạt các quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông H cũng không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà G, có nghĩa ông H đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án, bà G xác định không thể hàn gắn tình cảm với ông H, mâu thuẫn vợ chồng do cả hai bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, bà G và ông H đã tự sống ly thân. Xét thấy, hôn nhân phải trên sự vun đắp từ cả hai, cùng xây dựng hạnh phúc thì mới xây dựng gia đình bền chặt, gắn kết H, đến nay bà G không còn tình cảm với ông H cho thấy: tình cảm giữa bà G và ông H là có mâu thuẫn, nên tình trạng hôn nhân giữa bà G và ông L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc bà G yêu cầu ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G.

[2.2] Về quan hệ con chung: bà Lâm Thị G và ông Phan Quốc H không có con chung, nên không đề cập xem xét, quyết định.

[2.3] Về tài sản chung: bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà Lâm Thị G phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông Phan Quốc H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227,228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lâm Thị G đối với ông Phan Quốc H;

  • - Về quan hệ hôn nhân: bà Lâm Thị G được ly hôn đối với ông Phan Quốc H.

  • - Về quan hệ con chung: Không đề cập xem xét, quyết định.

  • - Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu, nên không đề cập xem xét, giải quyết.

  • - Về nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập xem xét, giải quyết.

  • - Về án phí sơ thẩm: bà Lâm Thị G phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng H trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003743 do Thi hành án dân sự tỉnh An Giang cấp ngày 10 tháng 10 năm 2025; bà Lâm Thị G đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình.

Ông Phan Quốc H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

  • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận H bản án hoặc H tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 9 - An Giang;
  • - Phòng THADS Khu vực 9 - THADS tỉnh An Giang;
  • - Ủy ban nhân dân phường Long Xuyên, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: hồ sơ; VP;

TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Trung Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ




Nguyễn Văn Sơn Huỳnh Văn Nam

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn

  • Số bản án: 109/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger