TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số:109/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13-6-2025 V/v tranh chấp “ Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Thu Nhi.
- Bà Lê Thị Bé Bảy
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:187/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày29tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 273/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: 9 L, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi ở hiện nay: 1 L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.;
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1984.
Địa chỉ: số I L, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
( Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: chị và anh Nguyễn Thanh L cưới nhau từ năm 2008, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố M vào ngày 29/8/2008. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, do bất đồng quan điểm sống tính tình không phù hợp, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Về hôn nhân: chị T yêu cầu được ly hôn anh L.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Minh P sinh ngày 30/10/2009 và Nguyễn Hoàng Gia L1 sinh ngày 23/11/2013. Ly hôn chị T yêu cầu nuôi con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/ con.Về tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung, không có
* Bị đơn anh Nguyễn Thanh L khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông L không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt không rõ lý do.
* Tại phiên tòa, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng và vắng mặt không rõ lý do. Về nội dung theo lập luận nêu tại bài phát biểu. Căn cứ Điều 55, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Giao cháu Nguyễn Hoàng Minh P sinh ngày 30/10/2009 và Nguyễn Hoàng Gia L1 sinh ngày 23/11/2013, cho chị T nuôi dưỡng, anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/ cháu. Về tài sản chung và nợ chung chị T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh L có hộ khẩu thường trú tại phường E thành phố M. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
[2]. Sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không có đơn xin xét xử vắng mặt, và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3].Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh L tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang là hôn nhân hợp pháp. Sau khi xác lập hôn nhân chị T và anh L sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong quá trình giả quyết vụ án, chị T khẳng định không còn tình cảm với anh L. Đồng thời khoảng thời gian sống ly thân, cả hai vợ chồng vẫn chưa thể hàn gắn nên mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể duy trì cuộc sống chung. Ngoài ra từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, anh L không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến của mình về việc chị T yêu cầu ly hôn và nêu biện pháp hàn gắn duy trì quan hệ hôn nhân. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chi Trúc cho chị T được ly hôn với anh L.
[4].Về nuôi con chung: Thời gian hôn nhân chị T và anh L có02 con chung tên Nguyễn Hoàng Minh P sinh ngày 30/10/2009 và Nguyễn Hoàng Gia L1 sinh ngày 23/11/2013, ly hôn chị T yêu cầu được nuôi 02 con chung. Xét thấy, hai cháu Minh P và Gia L1 đã trên 07 tuổi và có ý kiến mong muốn được ở cùng mẹ, và anh L cũng không có văn bản phản đối việc nuôi con của chị T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, cần tiếp tục giao cháu Minh P và Gia L1 cho chị T chăm sóc và nuôi dưỡng.
[5].Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử thấy rằng, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đã được quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nên ông Q có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi cháu P1. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Do đó, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T là có cơ sở, phù hợp với pháp luật
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Quá trình giải quyết vụ án, chị T xác định anh L hiện tại làm công chức có thu nhập ổn định, anh L cũng không có văn bản ý kiến phản đối về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T. Do đó, để bảo bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và đảm bảo sự phát triển của cháu Minh P và Gia L1, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về mức cấp dưỡng của chị T buộc anh Trần Thanh L2 cấp dưỡng nuôi cháu Minh P và Gia L1 mỗi cháu 2.000.000 đồng/ tháng.
[6]. Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[8].Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Chị Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
Anh Trần Thanh L2 phải chịu 300.000 đồng tiền cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 4 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thanh T.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Minh P sinh ngày 30/10/2009 và Nguyễn Hoàng Gia L1 sinh ngày 23/11/2013 cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh L phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/ cháu đến khi các con tròn 18 tuổi lao động được.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
Không ai được quyền cản trở việc thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005579 ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh tỉnh Tiền Giang, như vậy đã nộp xong.
Anh Nguyễn Thanh L phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng
- Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Trúc Linh |
Bản án số 109/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 109/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh Trúc, sinh năm 1983. Địa chỉ: 95/15 Lê Việt Thắng, phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Nơi ở hiện nay: 104/5 Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.; 2.Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Liêm, sinh năm 1984. Địa chỉ: số 95/15 Lê Việt Thắng, phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
