TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-12-2025 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh, bà Ngô Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên. (Kiểm sát viên thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa)
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 311/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Khánh V, sinh năm 1989. Nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Nơi ở hiện nay: Số E, khu C, đường T, Đ, Đài Loan, Trung Quốc (xin vắng mặt).
+ Người đại diện nhận văn bản tố tụng của anh Nguyễn Khánh V: Chị Lê Thị Kiều N, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số B T, phường Y, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1984. Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Nơi ở hiện nay: Đài Loan, Trung Quốc (xin vắng mặt).
+ Người đại diện nhận văn bản tố tụng của chị Nguyễn Thị G: Chị Phạm Lê Kim C, sinh năm 2004. Địa chỉ: Số B T, phường Y, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn Nguyễn Khánh V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2022, anh kết hôn với chị Nguyễn Thị G. Trước khi kết hôn, anh và chị G được tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 05/4/2022. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến gần đây thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Hai bên gia đình đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng tăng lên. Hai vợ chồng đã chính thức ly thân từ năm 2025 đến nay. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị G.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc bận, khoảng cách địa lý xa xôi nên anh xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án.
* Tại Bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2022, chị kết hôn với anh Nguyễn Khánh V. Trước khi kết hôn, chị và anh V được tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 05/4/2022. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến gần đây thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Hai bên gia đình đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng tăng lên. Hai vợ chồng đã chính thức ly thân từ năm 2025 đến nay. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh V xin ly hôn, chị đồng ý ly hôn anh V.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc bận, khoảng cách địa lý xa xôi nên chị xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án.
* Tại phiên toà:
Nguyên đơn anh Nguyễn Khánh V, bị đơn chị Nguyễn Thị G xin vắng mặt tại phiên toà. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Khánh V có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk, hiện đang sinh sống và làm việc tại Trung Quốc có đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị G có hộ khẩu thường trú tại N, xã N, tỉnh Bắc Ninh, hiện chị G đang sinh sống và làm việc tại Trung Quốc. Căn cứ quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân thì Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh có thẩm quyền giải quyết.
[1.2]. Quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị G. Căn cứ Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”.
[1.3]. Sự vắng mặt của các đương sự: Anh V1, chị G đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Anh V1 và chị G đăng ký kết hôn ngày 05/4/2022 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định hôn nhân giữa anh V1 và chị G là hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân, HĐXX thấy: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn có cơ sở xác định: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh V1, chị G chung sống hạnh phúc. Đến 2025, hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Hai bên gia đình đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng tăng lên. Hai vợ chồng đã chính thức ly thân từ năm 2025 đến nay. Như vậy, trong thời gian sống chung, anh V1 và chị G không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Vợ chồng không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đễn vợ chồng đã sống ly thân. Việc này đã trái với các quy định tại Điều 19, Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh V1, chị G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh V1 đối với chị G.
[2.2]. Về con chung: Anh V1 và chị G không có con chung nên HĐXX không đặt xem xét giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Vũ, chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[3]. Về án phí: Anh V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Khánh V được ly hôn chị Nguyễn Thị G.
- Về nuôi con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Khánh V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh V đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003104 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Anh V1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Khánh V, chị Nguyễn Thị G hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Dung |
Bản án số 109/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 109/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khánh Vũ - Nguyễn Thị Giang "Tranh chấp ly hôn"
