Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 109/2025/DS-PT

Ngày: 29 - 5 - 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 104/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 84/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số C T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị M: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1986; địa chỉ: C V, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 21/4/2025)

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; có mặt ông Nguyễn Ngọc S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 25/11/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trình bày:

Nguyên trước đây bà Trương Thị M do làm ăn khó khăn có nhờ bà giới thiệu bà Nguyễn Thị Kim S1 để vay tiền. Thông qua sự giới thiệu của bà, bà S1 có cho bà M vay số tiền là 01 tỷ đồng. Hai bên tự giao tiền và thỏa thuận việc trả gốc, lãi cho nhau.

Tuy nhiên, tới ngày 02/8/2021 do bà M không có tiền trả lãi cho bà S1 nên có gọi điện, nhắn tin nhờ bà cho bà M vay 230.000.000 đồng để trả lãi cho bà S1. Do việc vay mượn giữa hai bên là do bà giới thiệu nên bà thấy nếu bà M không trả tiền được cho bà S1 thì bà cũng mất uy tín đối với bà S1 nên bà đồng ý cho bà M vay số tiền 230.000.000 đồng và đã trả tiền này cho bà S1 theo thỏa thuận của cả ba người. Giữa bà và bà M cho vay bằng hình thức nhắn tin qua zalo và điện thoại nên không có giấy vay tiền. Tuy nhiên, qua nội dung tin nhắn đòi nợ giữa bà với bà M thể hiện rõ bà M có vay của bà số tiền trên. Theo thỏa thuận bà M sẽ trả lại cho bà số tiền này trong thời hạn 3 tháng. Tuy nhiên, cho đến hôm nay bà M vẫn cố tình chây ì không chịu trả cho bà số tiền trên. Bà nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu bà M trả nợ nhưng bà M vẫn hẹn lần không trả. Vì vậy, nay bà làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày kết thúc thời gian thỏa thuận trả nợ là 3 tháng (ngày vay là ngày 02/8/2021, ngày bắt đầu tính lãi sau 3 tháng là ngày 03/11/2021) cho đến khi bà M trả xong số nợ trên. Tạm tính đến thời điểm khởi kiện bà M phải trả cho bà số tiền lãi là 230.000.000 đồng x 1,66% x 36 tháng = 137.448.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi tính đến thời điểm khởi kiện là 367.448.000 đồng.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ yêu cầu bà Trương Thị M phải trả cho bà số tiền gốc là 230.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 02/11/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm.

* Theo bản tự khai ngày 24/12/2024 và trong quá trình giải quyết bị đơn bà Trương Thị M trình bày:

Ngày 04/6/2020, bà có vay bà Nguyễn Thị Ngọc Đ số tiền 1.000.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận tiền lãi hàng tháng là 30.000.000 đồng/tháng (30.000.000 đồng/1.000.000.000 đồng = 3%/tháng, tương đương 36%/năm) nhưng bà Đ đưa ra điều kiện là bắt bà phải thế chấp quyền sử dụng đất cho bà Đ giữ, tiền lãi không được chậm trễ nếu trả lãi trễ phải chịu phạt thêm. Theo đó, hai bên đồng ý và đã làm Hợp đồng thỏa thuận (Hợp đồng được làm thành 02 bản mỗi bên giữ 01 bản, có kèm các điều kiện như bà đã trình bày). Căn cứ theo Hợp đồng thỏa thuận, hàng tháng bà đều đóng tiền lãi đầy đủ cho đến khi bà trả hết nợ cho bà Đ. Sau khi trả hết nợ thì bà Đ mới trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và 02 bản Hợp đồng thỏa thuận đã ký; việc bà Đ khởi kiện bà là vô căn cứ vì bà không còn nợ tiền bà vì bà trả hết nợ bà Đ mới trả lại quyền sử dụng đất và

02 bản Hợp đồng chính đã ký kết. Đồng thời, việc bà Đ nói giới thiệu bà với bà Nguyễn Thị Kim S1 để vay mượn tiền là không đúng sự thật, vì bà không có quan hệ làm ăn, không biết bà S1 là ai, ở đâu.

Tại phiên toà, bà M trình bày: bà có vay tiền bà Đ nhưng đã trả hết gốc và lãi cho bà Đ, hiện nay bà đã lấy sổ về nên không còn nợ gì bà Đ nữa. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đ.

* Người làm chứng bà Nguyễn Thị Kim S1 trình bày:

Bà xác nhận có cho bà M vay số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 04/6/2020 thông qua bà Đ. Do không tin tưởng bà M nên bà có đưa tiền để bà Đ đưa cho bà M và tiền lãi hàng tháng bà M trả qua cho bà Đ đưa lại cho bà. Từ ngày 02/8/2021 đến ngày 02/4/2022, bà Đ không đưa tiền lãi, bà Đ nói bà gọi bà M đòi nhưng khi gọi bà M nói không làm phiền bà M. Ngày 22/4/2022, bà Đ có yêu cầu bà nhận tạm tiền lãi bằng tiền mặt từ ngày 03/08/2021 đến 02/04/2022 (8 tháng) là 100.000.000 đồng (vì bà M mới trả cho bà Đ là 100.000.000 đồng) và bà Đ xin cho bà Đ nợ lại 140.000.000 đồng nhưng bà không đồng ý, buộc bà Đ thanh toán đủ số tiền còn lại cho bà vì bà rất cần tiền để thanh toán các khoản nợ xây nhà còn lại. Sau đó, bà Đ thanh toán đủ tiền lãi hàng tháng cho bà bằng tiền mặt là 30.000.000 đồng/mỗi tháng. Đến ngày 02/08/2022, bà Đ đã trả đầy đủ, dứt điểm tiền gốc cho bà bằng tiền mặt là 1.000.000.000 đồng.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 105, Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ. Buộc bà Trương Thị M trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Đ số tiền là 283.579.000₫ (Hai trăm tám mươi ba triệu, năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng), trong đó tiền gốc là 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng) và tiền lãi là 53.579.000đ (Năm mươi ba triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 17/3/2025, bị đơn bà Trương Thị M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy số tiền 230 triệu đồng không có giấy tờ vay nhưng chứng cứ từ các tin nhắn zalo qua lại giữa nguyên đơn và bị đơn, lời khai của người làm chứng hoàn toàn đồng nhất nên có đủ căn cứ để xác định bà M còn nợ bà Đ số tiền 230 triệu đồng và tiền lãi suất chậm trả như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng pháp luật.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Bị đơn bà Trương Thị M kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[3] Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự xét thấy Tòa sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Đòi lại tài sản (đòi lại tiền) là chưa phù hợp. Do đó, Tòa cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp Hợp đồng vay tài sản cho phù hợp, đúng bản chất của vụ án. Tòa sơ thẩm giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463 Bộ luật dân sự.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị M, Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Về số tiền vay gốc:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và bà Trương Thị M có mối quan hệ quen biết nên bà M có nhờ bà Đ vay tiền giúp. Vì vậy, bà Đ đưa bà M đến gặp kế toán của mình là bà Nguyễn Thị Kim S1 để vay cho bà M 01(một) tỷ đồng vào ngày 04/06/2020, lãi suất là 3%/tháng và bà M có thế chấp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Đ sẽ chịu trách nhiệm về khoản vay và đứng tên trên hợp đồng cho vay, còn tiền vay là của bà S1. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bà M thừa nhận có vay của bà Đ số tiền 01 (một) tỷ đồng vào ngày 04/6/2020, lãi suất 3%/tháng và có thế chấp quyền sử dụng đất cho bà Đ. Như vậy, sự thừa nhận của bà M thì bà Đ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình vay số tiền 01(một) tỷ đồng nêu trên thì việc trả lãi của bà M cho bà S1 không đầy đủ nên bà Đ cho bà M vay số tiền 230 triệu đồng để trả tiền lãi của số tiền 01 (một) tỷ nêu trên cho bà S1 và bà Đ là người trực tiếp trả cho bà S1 230 triệu đồng tiền lãi thay cho bà M. Sự việc này đều thể hiện qua các tin nhắn zalo (vào các ngày 02/8/2021; 26/3/2022, 27/3/2022, 05/4/2022, 08/4/2022, 11/4/2022, 06/01/2023, 07/01/2023, 16/3/2023, 21/3/2023) giữa bà Đ và bà M (theo số điện thoại của bà M 0812.673.xxx), trong đó thể hiện nội dung bà S1 là người đưa tiền cho bà M vay và đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà M thế chấp và tiền lãi hàng tháng là bà M trả cho bà S1 thông qua bà Đ. Sau đó, liên tiếp vào các ngày 28/03, 09/04, 20/04, 03/05 năm 2023 bà Đ liên tục nhắn tin, gọi điện thoại yêu cầu bà M trả nợ. Sau đó, bà Đ và bà M tiếp tục nhắn tin từ tháng 05/2023 đến tháng 12/2023 vẫn xoay quanh nội dung bà Đ nhắn tin đòi bà M trả số tiền nợ 230 triệu đồng.

Trong các tin nhắn bà Đ liên tục đòi bà M phải trả cho bà Đ số tiền 230 triệu và nói rõ đây là số tiền bà Đ đã cho bà M vay để trả tiền lãi cho bà S1. Trong tất cả các tin nhắn mà bà M nhắn lại cho bà Đ thì bà M không phản đối việc bà M còn nợ bà Đ số tiền 230 triệu đồng mà chỉ năn nỉ, hứa hẹn, nói chưa có tiền, cho thời gian để bà M lấy tiền ở chỗ khác về trả cho bà Đ.

Mặc dù, số tiền 230 triệu đồng các bên không có giấy tờ vay nhưng chứng cứ từ các tin nhắn zalo qua lại giữa bà Đ và bà M, lời khai của bà Đ, lời khai của người làm chứng là hoàn toàn thống nhất và hơn nữa sự thừa nhận của bà M về việc bà có vay tiền, vay có lãi suất, có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn phù hợp với các nội dung tin nhắn zalo như cấp sơ thẩm đã viện dẫn, bà M cũng không phản đối về các tin nhắn zalo do bà Đ cung cấp nên có đủ căn cứ để xác định bà M còn nợ bà Đ số tiền 230 triệu đồng.

[4.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác nhận bà M có sử dụng số điện thoại 0812.673.xxx từ khoảng năm 2020 đến nay. Như vậy, bị đơn thừa nhận có sử dụng số điện thoại 0812.673.xxx là phù hợp với lời khai của nguyên đơn xác nhận số điện thoại trên là của bị đơn và các tin nhắn zalo nêu trên là từ số điện thoại này và hiện còn lưu trong điện thoại của nguyên đơn. Xét thấy, bị đơn phản đối những tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn đưa ra nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự phản đối của mình nên không có cơ sở để xem xét.

[4.3] Về số tiền lãi suất: Theo chứng cứ có trong hồ sơ thì thời gian bà M hứa trả tiền cho bà Đ là sau 3 tháng từ tháng 4/2022 nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bà Đ yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày 02/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm là có lợi cho bị đơn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tính tiền lãi 53.579.000 đồng là đúng quy định.

[5] Trong vụ án này, bà Đ khởi kiện yêu cầu bà M phải trả lại số tiền 230 triệu đồng đã cho bà M vay để trả tiền lãi cho bà S1, bà M không có ý kiến hay phản tố gì liên quan đến vấn đề lãi suất của bà S1 nên cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định.

[6] Từ những nhận định trên xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 308, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

[2] Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 93; Điều 94; Điều 95; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Luật thi hành án dân sự.

[3] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ.

Buộc bà Trương Thị M phải trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Đ số tiền 283.579.000 đồng (trong đó tiền gốc là 230.000.000 đồng và tiền lãi là 53.579.000 đồng) (Hai trăm tám mươi ba triệu, năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức

lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị M phải nộp 14.179.000 đồng (Mười bốn triệu, một trăm bảy mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại số tiền 9.187.000 đồng (Chín triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002371 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết cho bà Nguyễn Thị Ngọc Đ.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bà Trương Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002962 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Bà M đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

[6] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/5/2025)

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tòa DS, Tổ HCTP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2025/DS-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 109/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc Đ kiện Trương Thị M về việc "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger