TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 25 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến
Bà Nguyễn Thị Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 08/5/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXX-ST ngày 06/6/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 27/9/1990 tại tỉnh Bình Thuận.
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: 139R5, tổ D, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 11/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đào Đỗ Q, sinh năm 1968 và con bà Bùi Thị G, sinh năm 1971. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất và chưa có vợ con. Tiền sự: Không.
Tiền án:
- Ngày 25/10/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù giam, về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã đóng án phí ngày 17/12/2007 và chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2009
- Ngày 18/10/2010, Đào T có hành vi giết người sau đó bị bắt tạm giam, đến ngày 21/12/2011 bị Tòa án Phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh - Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt 20 năm tù giam, về tội “Giết người” quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 và bồi thường thiệt hại 84.800.000 đồng; chấp hành xong án phạt tù ngày 14/02/2023. Bồi thường thiệt hại xong ngày 17/12/2015.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp quả tang ngày 13/12/2023, chuyển tạm giam ngày 23/12/2023 và hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Đ1.
Bào chữa cho bị cáo theo quy định có Luật sư Nguyễn Ngọc H, thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư tỉnh Đ.
(Bị cáo, L bào chữa cho bị cáo, có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính: Đào Thủy Chung là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, từ tháng 10/2023 đến ngày 13/12/2023, C đã 06 lần mua ma túy của người tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực ngã tư A thuộc phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh mang về nơi ở tại A, tổ D, Khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu để sử dụng và bán cho người nghiện ma túy, cụ thể:
Từ ngày 04/10/2023 đến ngày 11/12/2023, Đào Thủy C1 đã 05 lần mua 05 gói ma túy (không rõ khối lượng) của đối tượng tên H1 sau đó mang đến khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho Phạm Minh H2 (sinh năm 1992, nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Trước khi mua ma túy, thì Phạm Minh H2 đều liên lạc qua điện thoại di động với C1 để thỏa thuận đặt số tiền mua ma túy và chuyển tiền vào ví điện tử MoMo số 0937810970 cho Đào T. Sau đó, C1 đi đến khu vực ngã tư A mua ma túy của đối tượng tên H2 mang về bán cho Phạm Minh H2; Cụ thể các lần như sau: Ngày 04/10/2023, C1 mua 01 gói ma túy không rõ khối lượng giá 1.500.000 đồng mang về lấy một ít sử dụng còn lại bán cho Phạm Minh H2 giá 1.500.000 đồng; Ngày 14/10/2023, C1 mua 01 gói ma túy không rõ khối lượng giá 1.300.000 đồng mang về lấy một ít sử dụng còn lại bán cho Phạm Minh H2 giá 1.300.000 đồng (lần này H2 trả 1.000.000 đồng và thiếu 300.000 đồng); Ngày 06/11/2023, C1 mua 01 gói ma túy không rõ khối lượng giá 1.200.000 đồng mang về lấy một ít sử dụng còn lại bán cho Phạm Minh H2 giá 1.200.000 đồng (Lần này H2 trả 300.000 đồng thiếu trong lần mua ma túy trước); Ngày 03/12/2023, C1 mua 01 gói ma túy không rõ khối lượng giá 1.500.000 đồng mang về lấy một ít sử dụng còn lại bán cho Phạm Minh H2 giá 1.700.000 đồng thu lợi 200.000 đồng; Ngày 11/12/2023, C1 mua 01 gói ma túy không rõ khối lượng giá 1.500.000 đồng mang về lấy một ít sử dụng còn lại bán cho Phạm Minh H2 giá 1.700.000 đồng thu lợi 200.000 đồng.
Đến ngày 13/12/2023, Đào Thủy C1 sử dụng xe mô tô biển số 39F3- 7489 tiếp tục đi đến khu vực ngã tư A gặp người tên H2 thỏa thuận mua 07 gói ma túy đá giá 9.000.000 đồng mang về thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bán. Lúc 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi C1 mang số ma túy trên đi đến khu vực đường Q thuộc khu phố G, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an tỉnh Đ1 kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 07 gói nilon màu đen bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại đi động hiệu Ređmi Notel 1 số 0937810970 và 0397808718; 01 xe mô tô hiệu SYM Attila biển số 39F3-7489; 1.000.000 đồng. Khám xét nơi ở của C1 thu giữ 01 kéo bằng kim loại màu trắng.
Bị cáo Đào Thủy C1 trong quá trình điều tra khai nhận hành vi mua bán ma túy như đã nêu trên.
2. Giám định và kết luận giám định: Kết luận giám định số 2759/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của phòng K Công an tỉnh Đ1 về số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Đào Thủy C1 kết luận:
“Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 34,7371 gam, loại: Methamphetamine”.
3. Về vật chứng vụ án: 01 phong bì Giấy niêm phong số 2759/KL-KTHS ngày 20/12/2023 là số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định; 01 kéo bằng kim loại màu trắng không còn giá trị sử dụng. 01 điện thoại đi động hiệu Redmi Notel 1 số 0937810970 và 0397808718; 1.000.000 đồng là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội và do phạm tội mà có.
4. Truy tố: Cáo trạng số 89/CT-VKS-P1 ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Đào Thủy C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
5. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
6. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
6.1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đào Thủy C1, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự
6.2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” bản thân bị cáo trước đó đã bị kết án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, đã tái phạm, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
6.3. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
6.4. Điều luật áp dụng và đề xuất mức hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm g, h khoản 1 Điều 52 ,điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hìnhsự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Thủy C1 mức án từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) năm tù.
6.5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tốhình sự, đềnghị:
- Tịch thu tiêu hủy tổng tang vật vụ án không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung công 01 điện thoại do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
6.6. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hìnhsự sơ thẩm theo quy định.
7. Quan điểm của luật bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa:
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo như bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thành khẩn khai báo, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bản thân cha mẹ đã ly hôn, bị cáo sống với mẹ, hiện mẹ bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo, có ông nội bà nội, ông ngoại và bà ngoại tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng N và hạng Nhì để quyết định mức hình phạt phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố hình sự, văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
[2] Về nội dung vụ án.
2.1. Về hành vi của bị cáo bị truy tố:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra như, kết quả giám định hàm lượng ma túy, Biên bản bắt quả tang, Biên bản khám xét, Biên bản thu nhận vật chứng phù hợp với lời khai của những người liên quan khác trong vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/10/2023 đến ngày 11/12/2023, tại khu vực ngã tư A thuộc phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Đào Thủy C1 đã 05 lần mua ma túy (không rõ khối lượng) của người tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch) để sử dụng và bán cho Phạm Minh H2 giá 7.400.000 đồng thu lợi 400.000 đồng. Đến ngày 13/12/2023, C1 tiếp tục sử dụng xe mô tô biển số 39F3-7489 (do Phạm Văn M đứng tên chủ sở hữu) đi đến ngã tư A mua của H2 07 gói ma túy có khối lượng: 34,7371 gam, loại Methamphetamine giá 9.000.000 đồng (trong đó có 400.000 đồng thu lợi trong các lần bán ma túy trước đó). Khi C1 mang số ma túy trên về đến khu vực đường Q thuộc khu phố G, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an tỉnh Đ1 kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ. Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố.
2.2. Đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo:
Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, ngoài ra ma túy còn là nguyên nhân của tội phạm khác. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm tạo môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh cho cộng đồng. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy là một loại chất cấm lưu hành và do Nhà nước độc quyền quản lý, nhưng bị cáo đã bất chấp sự ngăn cấm của phápđể thực hiện hành vi mua bán ma túy để kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của cộng đồng, tác động rất xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[3]. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” trước đó bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích, sau đó lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; Đã tái phạm, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” các tình tiết nêu trên được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện đang bị bệnh, có hoàn cảnh khó khăn thuộc thành phần lao động, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bản thân cha mẹ đã ly hôn, bị cáo sống với mẹ, hiện mẹ bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo, có ông nội bà nội, ông ngoại và bà ngoại tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tốhìnhsự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong số 2759/KL-KTHS ngày 20/12/2023 là số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định; 01 kéo bằng kim loại màu trắng không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại đi động hiệu Ređmi Notel 1 số 0937810970 và 0397808718; 1.000.000 đồng là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội và do phạm tội mà có.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tốhình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườngvụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nên được ghi nhận.
[7] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[8] Vấn đề khác: Đối với các đối tượng tên Phạm Minh H2 là người mua ma túy của Đào T đã bị Công an phường P ra quyết định xử phạt hành chính số 38 ngày 19/12/2023 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” số tiền 1.500.000 đồng.
Đối với người tên H2 ở Thành phố Hồ Chí Minh bán ma túy cho C1, 01 xe mô tô hiệu SYM Attila biển số 39F3-7489 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ1 tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Thủy C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng và quyết định hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Bộ luật Hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Đ Thủy Chung 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong (số 2759/KL-KTHS ngày 20/12/2023);
- 01 kéo bằng kim loại màu trắng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi Note 11, kèm Simà số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).
Tình trạng vật chứng, tài sản: Phong bì niêm phong còn nguyên niêm phong, điện thoại di động đã qua sử dụng, cũ, không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại, 01 kéo đã qua sử dụng, cũ.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/5/2024 theo Phiếunhập kho NK24/114 ngày 03/5/2024).
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tốtụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/10/2023 đến ngày 11/12/2023, tại khu vực ngã tư A thuộc phường T, Quận 12, Thành phố H, Đào Thủy Ch đã 05 lần mua ma túy (không rõ khối lượng) của người tên H (không rõ nhân thân lai lịch) để sử dụng và bán cho Phạm Minh H giá 7.400.000 đồng thu lợi 400.000 đồng. Đến ngày 13/12/2023, Chung tiếp tục sử dụng xe mô tô biển số 39F3-7489 (do Phạm Văn M đứng tên chủ sở hữu) đi đến ngã tư A mua của H 07 gói ma túy có khối lượng: 34,7371 gam, loại Methamphetamine giá 9.000.000 đồng (trong đó có 400.000 đồng thu lợi trong các lần bán ma túy trước đó). Khi Ch mang số ma túy trên về đến khu vực đường Quốc lộ lA thuộc khu phố 7, phường A, thành phố B, tỉnh Đ thì bị Công an tỉnh Đồng Nai kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ.
