Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án sô: 109/2024/HS-ST

Ngày 25 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh;

Bà Vi Thị Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Thanh T, sinh ngày 25 tháng 02 năm 1994 tại huyện B, Thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn Y, xã T2, huyện B, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh: giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ đảng, đoàn thể: Không; con ông Phan Ngọc M1 (đã chết) và bà Đỗ Thị T1; có vợ là Lê Thị M và 01 con (sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Thôn Y, xã T2, huyện B, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

+ Chị Lê Thị M, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn Y, xã T2, huyện B, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, Tổ công tác Phòng C Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an huyện V làm nhiệm vụ tại khu vực bản C1, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Phan Thanh T đang có hành vi tàng trữ hàng cấm.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 bao tải dứa màu trắng và 01 túi nilon màu đen;
  • 08 hộp hình trụ có đặc điểm như sau: 04 hộp hình hộp chữ nhật có bao bì, vỏ ngoài nhiều màu sắc, mặt trên hộp được bọc bằng giấy bóng màu vàng, mặt dưới hộp được bọc bằng giấy bóng màu nâu, xung quanh hộp in chữ nước ngoài, mặt trước có ghi số và chữ “36 SHOTS”, trong đó có 01 hộp đã bóc mở phần giấy nilon màu vàng làm lộ ra các quả pháo; 04 hộp hình trụ nhiều màu sắc, trên hộp có in chữ nước ngoài, phần góc phải bên dưới có ghi số và chữ “49 SHOTS”, mặt dưới được bọc bằng giấy màu nâu. Tổng khối lượng của 08 hộp hình trụ nghi là pháo nổ là 11,2kg; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max.
  • 01 xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO, biển kiểm soát 29H-580.62; giấy tờ xe và giấy tờ tùy thân của Phan Thanh T.

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 28/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La (PC 03) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Thanh T tại thôn Y, xã T2, huyện B, Thành phố Hà Nội, kết quả: Không phát hiện và không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của Phan Thanh T.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phan Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Phan Thanh T làm nghề vận chuyển hàng thuê trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc. Ngày 25/01/2024, T sử dụng mạng xã hội Facebook mang tên “T Zambo”, quá trình xem bảng tin T nhìn thấy có một tài khoản Facebook đăng bài quảng cáo bán pháo nổ (pháo hoa nổ) do nước ngoài sản xuất nên đã liên lạc bằng cách nhắn tin với tài khoản đăng tin nêu trên. T hỏi giá bán thì được trả lời có 02 loại, một loại hộp (giàn) 36 quả và loại hộp 49 quả bán cùng giá là 300.000 đồng/01 hộp nên T đã đặt mua 02 hộp pháo nổ loại 36 quả mục đích để sử dụng bắn chơi ngày Tết Nguyên Đán. Hai bên thống nhất địa điểm giao nhận mua bán pháo nổ tại huyện V, tỉnh Sơn La, thời gian cụ thể T sẽ liên lạc thông báo sau.

Sáng ngày 26/01/2024, T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO, biển kiểm soát 26H-580.62 chở hàng hóa là cám thành phẩm từ thành phố V1, tỉnh Phú Thọ theo đường Quốc lộ 6 đến xã C2, huyện M2, tỉnh Sơn La để giao hàng. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, T điều khiển xe theo đường Quốc lộ 6 đến huyện M3 thì gặp và mua trấu chở về Hà Nội bán. Sau khi bốc trấu xong, T tiếp tục điều khiển xe về Hà Nội. Khi đi đến khu vực bản C1, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, T dừng đỗ xe ô tô bên đường Quốc lộ 6 và sử dụng tài khoản Facebook của T gọi điện qua ứng dụng Messenger cho tài khoản Facebook đã đặt mua pháo trước đó hẹn giao dịch mua bán pháo nổ.

Khoảng hai tiếng sau có một người đàn ông đi bộ đến gần xe ô tô của T và đưa qua cửa kính xe cho T 01 bao tải dứa nói bên trong bao tải có 08 hộp pháo nổ nếu T mua hết thì mới bán. T mở bao tải dứa ra thấy có 01 túi nilon màu đen bên trong có 08 hộp pháo nổ loại “36 SHOTS” và “49 SHOTS” nên đồng ý mua cả 08 hộp với giá 300.000 đồng/01 hộp, tổng số tiền T đã trả cho người đàn ông là 2.400.000 đồng bằng tiền mặt. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đi về hướng huyện V (cụ thể đi đâu thì T không biết). Sau khi mua được pháo, T bóc 01 hộp loại “36 SHOTS" ra xem, ngay lúc này T bị Tổ công tác Phòng C Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ như đã nêu ở trên.

Về nguồn gốc số pháo nổ thu giữ: Phan Thanh T khai mua của một người đàn ông không quen biết qua mạng xã hội Facebook; T không biết họ tên, địa chỉ, số điện thoại và không biết thông tin gì khác của người đàn ông này.

Tại Kết luận giám định số 793/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của V2 Bộ Công an kết luận: “Các mẫu gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 11,2kg (mười một phẩy hai kilôgam) và đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất”.

Hành vi nêu trên của Phan Thanh T đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về các hành vi bị nghiêm cấm: “Nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc chiếm đoạt pháo nổ; trừ trường hợp tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, cung cấp, vận chuyển, sử dụng pháo hoa nổ theo quy định tại Nghị định này”.

Do đó, tại Cáo trạng số 05/CT-VKS-P3 ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Phan Thanh T về tội Tàng trữ hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Phan Thanh T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không khai báo gì thêm.

- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T1: Chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO biển kiểm soát 29H-580.62 là tài sản của bà. Nguồn gốc tiền mua xe là của bà, bà mua để phục vụ vận chuyển hàng hóa thuê, bị cáo chỉ được giao để sử dụng vận chuyển hàng cho bà, bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe ô tô nêu trên do bà không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị M: Vợ chồng chị không có tài sản chung, chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO biển kiểm soát 29H-580.62 là tài sản của mẹ chồng chị là bà T1. Nguồn gốc tiền mua xe là của bà T1, bà mua để phục vụ vận chuyển hàng hóa, chồng chị chỉ được giao để sử dụng vận chuyển hàng cho bà T1. Nguyện vọng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe ô tô nêu trên cho bà T1.

* Tranh luận tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội Tàng trữ hàng cấm. Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Tuyên trả tự do cho bị cáo Phan Thanh T ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max thu giữ của Phan Thanh T. Trả lại cho bị cáo Phan Thanh T 01 căn cước công dân số 0019400057 do Cục C4 cấp ngày 24/7/2021 mang tên Phan Thanh T.

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T1: 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO biển kiểm soát 29H-580.62; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Phan Thanh T; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe.

Về án phí: Bị cáo Phan Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phan Thanh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T1, chị Lê Thị M không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo

Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thanh T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 25/01/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, Phan Thanh T đã liên hệ và đặt mua của một người đàn ông không quen biết 02 hộp pháo nổ với giá 300.000 đồng/01 hộp, mục đích để sử dụng bắn chơi ngày Tết Nguyên Đán. Sáng ngày 26/01/2024, T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO, biển kiểm soát 26H-580.62 chở hàng (cám thành phẩm) từ thành phố V1, tỉnh Phú Thọ đến xã C2, huyện M2, tỉnh Sơn La. Sáng ngày 27/01/2024, T điều khiển xe theo đường Quốc lộ 6 về Hà Nội (khi đi qua huyện M3 có gặp và mua trấu chở về Hà Nội bán). Khi về đến khu vực bản C1, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, T dừng đỗ xe ô tô bên đường Quốc lộ 6 và sử dụng mạng xã hội Facebook liên hệ với người đàn ông hẹn giao dịch mua bán pháo nổ. Khoảng 02 tiếng sau, người đàn ông này đến chỗ T dừng đỗ xe ô tô và bán cho T 08 hộp pháo nổ loại “36 SHOTS” và “49 SHOTS” với giá 300.000 đồng/01 hộp, tổng 2.400.000 đồng và đưa 08 hộp pháo nổ qua cửa kính xe ô tô cho T. Ngay khi T bóc 01 hộp pháo nổ loại “36 SHOTS” ra xem thì bị Tổ công tác Phòng C Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang, còn người đàn ông sau khi mua bán xong đã bỏ đi về hướng huyện V (không biết cụ thể đi đâu). Tổng khối lượng pháo nổ thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang đối với Phan Thanh T là 11,2kg.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Phòng C Công an tỉnh Sơn La lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 27/01/2024 tại khu vực Quốc lộ 6, thuộc bản C1, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La cùng vật chứng thu giữ gồm: 08 hộp hình trụ có bao bì, vỏ ngoài nhiều màu sắc, trên hộp có in chữ nước ngoài, trong đó 04 hộp có ghi số và chữ “36 SHOTS” (01 hộp đã bóc mở phần giấy nilon màu vàng làm lộ ra các quả pháo), 04 hộp có ghi số và chữ “49 SHOTS”; tổng khối lượng của 08 hộp hình trụ nghi là pháo nổ là 11,2kg.
  • Kết luận giám định số 793/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của V2 Bộ Công an kết luận: “Các mẫu gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 11,2kg (mười một phẩy hai kilôgam) và đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất”.

Hành vi nêu trên của Phan Thanh T đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về các hành vi bị nghiêm cấm: “Nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc chiếm đoạt pháo nổ; trừ trường hợp tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, cung cấp, vận chuyển, sử dụng pháo hoa nổ theo quy định tại Nghị định này”.

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phan Thanh T đã phạm vào tội Tàng trữ hàng cấm, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt

Bị cáo Phan Thanh T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được các hành vi bị Nhà nước nghiêm cấm trong quản lý, sử dụng pháo nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 11,2kg pháo nổ, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo

Hành vi phạm tội bị cáo Phan Thanh T trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng bị cấm sản xuất, kinh doanh, lưu hành, sử dụng khi chưa được phép; vi phạm quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng pháo nổ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo Phan Thanh T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông bác là Phan Văn V3 (anh trai của ông nội Phan Thanh T) là liệt sĩ, được Tổ quốc ghi công; cụ nội là Bùi Thị B1 được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về mức hình phạt áp dụng

Hội đồng xét xử xét thấy khối lượng pháo nổ bị cáo Phan Thanh T tàng trữ trên mức khởi điểm của khung hình phạt không nhiều (11,2kg/06kg); bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên mở lượng khoan hồng, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng bảo đảm biện pháp cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[7] Về hình phạt bổ sung

Ngoài hình phạt chính, bị cáo Phan Thanh T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự nhưng Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, không có điều kiện để thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về các đối tượng có liên quan trong vụ án

Đối với người đàn ông theo bị cáo Phan Thanh T khai đã sử dụng tài khoản Facebook của bị cáo để nhắn tin, gọi điện vào tài khoản Facebook do người này sử dụng để đặt mua pháo nổ: Kết quả điều tra xác định sau khi liên hệ xong T đã xóa lịch sử nhắn tin, gọi điện với tài khoản Facebook này; T không nhớ tên tài khoản và không biết thông tin gì khác về tài khoản và người sử dụng tài khoản Facebook này. Ngoài lời khai của T thì không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra là đúng quy định.

Đối với người đàn ông đã trực tiếp bán pháo nổ cho Phan Thanh T vào ngày 27/01/2024: Kết quả điều tra xác định đây là lần đầu tiên T gặp người đàn ông này; T không quen biết, không biết họ tên, số điện thoại, địa chỉ và không biết thông tin gì khác về người đàn ông này. Ngoài lời khai của T thì không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra là đúng quy định.

[9] Về xử lý vật chứng, tài sản

Đối với 08 hộp pháo nổ thu giữ và đồ vật liên quan gồm 01 bao tải dứa màu trắng, 01 túi bóng màu đen đã được sử dụng hết để thực hiện giám định và không hoàn trả.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max thu giữ của Phan Thanh T: Xét là phương tiện bị cáo sử dụng để liên hệ mua pháo nổ nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO biển kiểm soát 29H-580.62; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Thanh T; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh T, bà Đỗ Thị T1 (mẹ bị cáo) và chị Lê Thị M (vợ bị cáo) đều khai nhận chiếc xe ô tô trên là tài sản của bà T1. Nguồn gốc tiền mua xe là của bà T1, bà T1 mua để phục vụ vận chuyển hàng hóa thuê (chở thức ăn chăn nuôi từ Phú Thọ lên Sơn La), bị cáo chỉ được giao sử dụng xe để vận chuyển hàng cho bà T1, giấy chứng nhận đăng kí xe mang tên bị cáo để thuận tiện cho việc lái xe, vận chuyển hàng hóa. Bị cáo T, bà T1 và chị M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe ô tô nêu trên cho bà T1 do bà T1 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét thấy lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T1 và chị Lê Thị M phù hợp với nhau về nguồn gốc tiền mua xe, có đủ căn cứ xác định nguồn tiền mua xe là của bà T1. Giấy chứng nhận đăng ký xe thể hiện tên đăng ký là Phan Thanh T tuy nhiên bị cáo chỉ là người sử dụng xe để vận chuyển hàng hóa cho bà T1. Gia đình bị cáo thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng hóa thức ăn chăn nuôi, thu nhập, nguồn sống duy nhất của cả gia đình phụ thuộc vào việc sử dụng xe để vận chuyển hàng, bị cáo bị bắt giữ khi vừa thực hiện xong hành vi mua bán pháo nổ. Bà T1 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó chấp nhận đề nghị của bà T1 về việc trả lại chiếc xe ô tô nêu trên cho bà T1.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Phan Thanh T: Xét đây là giấy tờ tùy thân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[10] Về án phí

Bị cáo Phan Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội Tàng trữ hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/4/2024).

Tuyên trả tự do cho bị cáo Phan Thanh T ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Phan Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã T2, huyện B, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 12 Pro Max màu xanh thu giữ của Phan Thanh T, được niêm phong trong một chiếc phong bì còn nguyên niêm phong.

- Trả lại cho bà Đỗ Thị T1:

+ 01 (một) chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu FUSO, màu sơn xanh, biển kiểm soát 29H-580.62, xe có 03 gương chiếu hậu, kèm 02 chìa khóa xe, đã qua sử dụng; kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29178292 do Phòng C3 Công an Thành phố Hà Nội cấp ngày 31/12/2021 mang tên Phan Thanh T; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số 1106705 do Trung tâm D cấp ngày 22/11/2023.

- Trả lại cho bị cáo Phan Thanh T: 01 (một) căn cước công dân số 0019400057 do Cục C4 cấp ngày 24/7/2021 mang tên Phan Thanh T.

(Hiện trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 20 phút ngày 03/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phan Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/4/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Phòng PC 03 Công an tỉnh Sơn La;
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã T2, huyện B, Thành phố Hà Nội;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Tổ Hành chính tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Điêu Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Thanh T phạm tội Tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger