|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/HSST Ngày 23/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Trí
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hiếu Luân và ông Dương Minh Khương.
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thủy;
- - Đại diện Viện kiểm sát gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/HSST ngày 10/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/HSST-QĐ, ngày 11/9/2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đào Viết N, sinh năm: 2000; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đào Viết S, sinh năm: 1976; con bà Đặng Thị S1, sinh năm: 1977; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt).
- Họ và tên: Đào Đức K, sinh năm: 2004; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đào Viết H, sinh năm: 1977; con bà Lục Thị T, sinh năm: 1983; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt).
*Người bị hại:
- Anh Nguyễn Đình H1, sinh năm 1990; HKTT và nơi ở: Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, (Vắng mặt).
- Anh Trương Việt H2, sinh năm 2003, HKTT và nơi ở: Thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội, (Vắng mặt có lý do).
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lục Thị T, sinh năm 1983, HKTT: Thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền ăn tiêu, nên trong các ngày 24/3, 27/3 và ngày 28/3/2024, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Đào Viết N rủ Đào Đức K (đều địa chỉ như trên) 03 lần lén lút và dùng thủ đoạn gian dối thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, chứng minh được cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/3/2024, Đào Viết N nói với Đào Đức K "chở anh ra chợ V lấy trộm cái xe”, K đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29X1-373.63 chở N đi từ nhà đến khu vực chợ V thuộc địa phận xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, K dừng xe ngoài đường Q để cảnh giới còn N đi bộ theo đường cổng chợ cách đường Q khoảng 50m thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS: 29U5-8655 của anh Nguyễn Đình H1 (SN: 1990, HKTT: Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) đang dựng ở đường, có cắm chìa khoá điện, quan sát thấy không có người trông giữ, N đi đến mở khoá rồi điều khiển xe mô tô đi đến chỗ K đang đứng. Sau đó, N, K phóng xe bỏ chạy theo hướng Hà Nam - Hà Nội. Trên đường đi, K đổi xe cho N, K điều khiển chiếc xe mô tô Honda Wave màu đỏ BKS: 29U5-8655 vừa trộm được còn N điều khiển chiếc xe mô tô BKS: 29X1-373.63 đi về thuê 01 phòng nghỉ tại nhà nghỉ H3 ở xã H, huyện C, TP .. Ngày 27/3/2024, N điều khiển chiếc xe mô tô, BKS: 29U5-8655 đến bến xe Y, phường Y, quận H, TP. bán cho một người không quen biết trên mạng xã hội với giá 3.000.000 đồng, N chia cho K 500.000 đồng, N giữ lại 2.500.000 đồng, toàn bộ số tiền N và K đã ăn tiêu cá nhân hết.
Ngày 01/4/2024, anh Nguyễn Đình H1 có đơn trình báo về việc anh bị mất 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS: 29U5-8655 đến Công an xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
Vụ thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 27/3/2024, Đào Viết N nói với Đào Đức K. “hai anh em đi tìm ở các chợ xem có ai sở hở thì lấy xe” K đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô BKS: 29U5-8655 chở N đi đến chợ Y thuộc địa phận xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, N nói với K: “Cứ đứng ở đây đợi anh, anh đi vào chợ chỗ nào đông người mua hàng rồi lừa mượn lấy xe người ta rồi đi ra ngoài”, K đồng ý đứng ngoài còn N đi bộ vào trong chợ Y. Lúc này, N thấy cửa hàng của anh Trương Việt H2 (SN: 2003, HKTT: Thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội) có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 30Z3-2956 nên N đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếc xe trên, N bảo anh H2 bán cho 01 bao tải rau cải Thảo trị giá 100.000 đồng, anh H2 đồng ý. Sau khi thanh toán xong, N bảo anh H2 chở bao tải rau ra xe ô tô cho N (N nói dối anh H2 để xe ô tô ở đầu chợ), anh H2 đồng ý và điều khiển xe mô tô, BKS: 30Z3-2956 chở rau ra xe ô tô nhưng không thấy xe nên anh H2 quay lại gặp N. Lúc này, N hỏi mượn chiếc xe mô tô của anh H2 để chở rau, anh H2 đồng ý và đưa cho N chiếc xe mô tô BKS: 30Z3-2956, N điều khiển xe chiếc đi ra chỗ K. Thấy N đi xe ra, K biết N đã lừa được xe nên điều khiển xe mô tô BKS: 29U5-8655 chạy theo sau, trên đường đi N đã vứt bỏ bao tải rau xuống đường (không nhỡ rõ vị trí vứt). Sau đó, K, N đi về thuê 01 phòng nghỉ tại nhà nghỉ H3 ở xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.
Vụ thứ ba: Khoảng 1h ngày 28/3/2024, N tiếp tục rủ K đi trộm cắp tài sản thì K đồng ý, K điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 30Z3- 2956 chở N đi đến khu vực phường B, quận H (gần cổng chào huyện C). Lúc này, N xuống xe đi bộ dọc đường xem có ai sơ hở gì thì lấy, đi được khoảng 600 đến 700m thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh, không nhớ rõ BKS dựng ở đường đang cắm chìa khóa điện, quan sát thấy không có người canh giữ N đã lấy trộm xe và cùng K bỏ chạy. Đi được 1 đoạn sợ bị phát hiện nên N dừng xe lại tháo BKS 30Z3-2956 của xe K đi lắp vào xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh vừa trộm cắp được và vứt chiếc BKS của xe đó đi (vị trí vứt K, Nam không nhớ). Sau đó, N rao bán xe trên mạng xã hội Facebook.
Ngày 28/3/2024 N mang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 30Z3- 2956 đến khu vực Bến xe Y, quận H bán cho một người nam thanh niên (không biết tên tuổi, địa chỉ) với giá 2.800.000 đồng rồi cùng K đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, lắp biển BKS 30Z3- 2956 về Nhà nghỉ H3 cùng nhau ăn uống nghỉ ngơi.
Ngày 30/3/2024, N đi đến khu vực gần bến xe Y bán cho 01 người không quen biết trên mạng xã hội chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh được 4.000.000 đồng, N chia cho K 1.000.000 đồng, toàn bộ số tiền N và K đã ăn tiêu cá nhân hết.
Ngày 13/8/2024, anh Trương Việt H2 có đơn trình báo về việc anh bị mất 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 30Z3-2956 đến Công an huyện T, thành phố Hà Nội.
Vật chứng thu giữ:
Ngày 01/4/2024, anh Nguyễn Đình H1 giao nộp 01 chiếc USB có chứa video hình ảnh liên quan đến Đào Viết N trộm cắp chiếc xe mô tô của anh H1.
Ngày 10/5/2024, chị Dương Thị P, sinh năm 1972, HKTT: Xã H, huyện C, thành phố Hà Nội (chủ nhà nghỉ H3) giao nộp 01 USB chứa video hình ảnh liên quan đến Đào Viết N, Đào Đức K vào ngày 24/3/2024.
Ngày 13/6/2024, chị Lục Thị T, sinh năm 1983, HKTT: Thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội (mẹ của K) tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô Honda wave mang BKS: 29X1-37363, số khung: RLHJA361XEY 500114, số máy: JA36E0000858.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã yêu cầu định giá đối với tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS: 29U5-8655, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, sơn màu nâu BKS 29N7-1476 và 01 xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 30Z3-2956 là tài sản Đào Viết N và Đào Đức K đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình H1 và anh Trương Việt H2.
Tại Bản kết luận định giá số 25 ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29U5-8655 có trị giá 2.540.000 đồng và Tại Bản kết luận định giá số 49 ngày 15/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 30Z3-3956 có trị giá 2.740.000 đồng.
Ngày 13/6/2024, Đào Đức K bị bắt tạm giam, ngày 25/7/2024, Đào Viết N đến Công an huyện T đầu thú.
Ngày 13/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Đức K tại thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội. Kết quả không thu giữ gì.
Ngày 30/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Đào Viết N tại thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội. Kết quả không thu giữ gì.
Ngày 15/8/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T có công văn số 1077 đề nghị Công an huyện M tiếp nhận hồ sơ vụ việc để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 16/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M có Công văn số 1077 phúc đáp công văn của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T: Từ ngày 27/3/2024, Công an huyện M không tiếp nhận đơn trình báo của anh Trương Việt H2 (SN: 2003, HKTT: Thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội) bị lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Z3 - 2956. Xét thấy, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T phát hiện điều tra tội phạm. Hiện đối tượng Đào Viết N và Đào Đức K đang bị tạm giam theo Lệnh tạm giam của Cơ quan CSĐT - Công an huyện T về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 24/3/2024 tại xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Để đảm bảo quyền lợi cho bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Cơ quan CSĐT - huyện M đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an huyện T tiếp tục thụ lý, điều tra, giải quyết đối với vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra ngày 27/3/2024 tại xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
Tại bản Kết luận giám định số 5925 ngày 20/8/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu 01 chiếc xe mô tô Honda wave mang BKS: 29X1-37363, số khung: RLHJA361XEY 500114, số máy: JA36E0000858 là số nguyên thủy. Không giám định biển kiểm soát: 29X1 - 373.63 do không có mẫu so sánh.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Gia đình bị cáo Đào Viết N, Đào Đức K đã bồi thường cho anh Nguyễn Đình H1 số tiền là 10.000.000 đồng, anh H1 đã nhận tiền và không có yêu cầu về dân sự. Anh H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N và K.
Anh Trương Việt H2 yêu cầu Đào Viết N, Đào Đức K phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng giá trị chiếc xe máy bị chiếm đoạt.
Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKSTT ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo Đào Viết Nam và Đào Đức Kiên về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố Đào Viết N và Đào Đức K phạm tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự (Đối với Đào Viết N và Đào Đức K). Đề nghị xử phạt:
-Đào Viết N từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Đào Viết N phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/7/2024;
-Đào Đức K từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Đào Đức K phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/6/2024;
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình có khó khăn nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Gia đình bị can Đào Viết N, Đào Đức K đã bồi thường cho anh Nguyễn Đình H1 số tiền là 10.000.000 đồng, anh H1 đã nhận tiền và không có yêu cầu về dân sự. Anh H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N, K nên không đặt ra để xem xét.
Anh Trương Việt H2 quá trình điều tra yêu cầu Đào Viết N, Đào Đức K phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt. Tại phiên tòa bị cáo N và K không ý kiến gì về kết quả định giá chiếc xe máy trên của Hội đồng định giá và đều thừa nhận không chia nhau số tiền đã bán nhưng cùng nhau ăn tiêu hết. Tại phiên tòa bị cáo N xin tự nguyện bồi thường cả 7.000.000 đồng cho anh H2 thay cho bị cáo K. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường của các bị cáo đối với người bị hại nên đề nghị Tòa xem xét và chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 29X1-37363 (do chị Lục Thị T giao nộp). Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên mang tên chị Đào Thị S2 (SN: 1988, HKTT: Thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội). Năm 2019, chị S2 đã bán chiếc xe trên cho chị Lục Thị T (là mẹ đẻ của K). Ngày 24/3/2024, khi K sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản, chị T không biết. Qua tra cứu xe không nằm trong cơ sở giữ liệu vật chứng nên đề nghị trả lại chị T chiếc xe trên theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và các bị cáo; người bị hại và người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tham gia tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo Đào Viết N và Đào Đức K thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
Do không có tiều ăn tiêu, trong các ngày ngày 24/3, 27/3 và ngày 28/3/2024, tại khu vực chợ V thuộc địa phận xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, khu vực chợ Y thuộc địa phận xã T, huyện M, thành phố H và tại địa bàn phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Đào Viết N, Đào Đức K đã 03 lần thực hiện hành vi lén lút và gian dối để chiếm đoạt tài sản, đã chứng minh được 2 lần có tổng trị giá là 5.280.000 đồng. Trong đó: lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình H1 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu mô tô Honda Wave màu đỏ BKS: 29U5-8655, trị giá 2.540.000 đồng; dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Trương Việt H2 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Z3-2956, trị giá 2.740.000 đồng.
Bản cáo trạng số 100/CT-VKSTT ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo Đào Viết N và Đào Đức K phạm về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét bị cáo Đào Viết N và Đào Đức K đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mặc dù các bị cáo đều là người có sức khỏe nhưng có lối sống buông thả, lười lao động nên đã có hành vi lén lút và dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong dư luận và bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo trong khoảng thời gian ngắn đã phạm vào 02 tội (đều về chiếm đoạt tài sản), hậu quả xảy ra thì chỉ khắc phục được một phần nên cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Đây là vụ án có đồng phạm (đồng phạm giản đơn), hành vi phạm tội của các bị cáo không có sự bàn bạc và không có sự tổ chức, phân công từ trước. Do vậy, cần phân hoá vai trò và hành vi phạm tội của các bị cáo thông qua hành vi thực hiện để có cơ sở cá thể hoá mức hình phạt cho phù hợp theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi của Đào Viết N trong cả 03 lần trộm cắp và lừa đảo N đều là người khởi xướng rủ rê, lôi kéo Đào Đức K tham gia và đều là người sử dụng phần lớn số tiền bán xe chiếm đoạt được; còn Đào Đức K là người bị lôi kéo tham gia nhưng đều nhận lời và phối hợp tham gia khá tích cực. Do vậy, vai trò của N trong vụ án là vai trò chính, còn vai trò của K là vai trò đồng phạm giúp sức cho N. Do các bị cáo đều phạm nhiều tội nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự (tù có thời hạn) cách ly ra khỏi xã hội đối với các bị cáo một thời gian phù hợp với tích chất, hành vi và vai trò của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội và cần áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo và cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều tội theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại (anh Nguyễn Đình H1) xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo (Đào Viết N thì sau khi phạm tội đã ra đầu thú) theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Đào Viết N, Đào Đức K đã bồi thường cho anh Nguyễn Đình H1 số tiền là 10.000.000 đồng, anh H1 đã nhận tiền và không có yêu cầu về dân sự. Tọa phiên tòa các bị cáo và đại diện gia đình bị cáo K không đề nghị Tòa xem xét (về người bồi thường và mức bồi thường) nên không đặt ra để giải quyết.
Anh Trương Việt H2 quá trình điều tra yêu cầu Đào Viết N, Đào Đức K phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng. (Hội đồng định giá 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 30Z3-2956, của anh Trương Việt H2 trị giá 2.740.000 đồng). Tại phiên tòa, anh Trương Việt H2 có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án giải quyết buộc các bị cáo phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Bị cáo N và K không ý kiến gì về kết quả định giá chiếc xe máy trên của Hội đồng định giá và đều thừa nhận không chia nhau số tiền đã bán nhưng cùng nhau ăn tiêu hết. Tại phiên tòa bị cáo N cho rằng mình là người giữ vai trò chính nên tự nguyện xin bồi thường cả 7.000.000 đồng cho anh H2 thay cho bị cáo K. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường của các bị cáo đối với người bị hại nên cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 29X1-37363. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên mang tên chị Đào Thị S2 (SN: 1988, HKTT: Thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội). Năm 2019, chị S2 đã bán chiếc xe trên cho chị Lục Thị T (là mẹ đẻ của K). Ngày 24/3/2024, khi K sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản, chị T không biết. Qua tra cứu xe không nằm trong cơ sở giữ liệu vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản hợp pháp của chị Lục Thị T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị T là có căn cứ.
Đối với 01 chiếc USB có chứa video hình ảnh liên quan đến Đào Viết N trộm cắp chiếc xe mô tô của anh H1 (do anh Nguyễn Đình H1 giao nộp); và 01 USB chứa video hình ảnh liên quan đến Đào Viết N, Đào Đức K vào ngày 24/3/2024 do chị Dương Thị P, sinh năm 1972, HKTT: Xã H, huyện C, thành phố Hà Nội (chủ nhà nghỉ H3 giao nộp). Xét thấy, 02 USB nêu trên là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với vụ trộm ngày 28/3/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Cơ quan CSĐT Công an quận H và Công an phường B đều không tiếp nhận được đơn trình báo của người bị hại. Qua trình điều tra chưa làm rõ được bị hại, chưa thu được vật chứng nên cần tách tài liệu tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với những người mua: 01 chiếc xe mô tô Honda wave màu đỏ, BKS: 29U5-8655; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu đen, BKS: 30Z3-2956 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh, không rõ BKS. Quá trình điều tra, Đào Viết N khai đã bán tại khu vực phường Y, quận H, thành phố Hà Nội cho người không biết rõ tên tuổi địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch của những người này nên cần tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đào Viết N, Đào Đức K phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật. Các bị cáo, người bị hại và người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đào Viết N và Đào Đức K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng khoản1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với Đào Viết N, Đào Đức K).
Xử phạt: Đào Viết N 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Đào Viết N phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 27 (Hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/7/2024;
Xử phạt: Đào Đức K 08 (T1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 10 (M) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Đào Đức K phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/6/2024;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Đào Viết N. Buộc bị cáo Đào Viết N phải có nghĩa vụ bồi thường 7.000.000 (Bẩy triệu) đồng thiệt hại về tài sản cho anh Trương Việt H2.
Sau khi bản án có lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong hết khoản tiền phải thi hành thì hàng tháng bị cáo phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án đối với khoản chưa thanh toán theo mức lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hoàn trả 01 (một) chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 29X1-37363; số khung: RLHJA361 XEY 500114, số máy: JA36E0000858 cho chị Lục Thị T, sinh năm 1983, HKTT: Thôn E, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội.
(Đặc điểm và hiện trạng vật chứng thực hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024 của Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Đào Viết N và Đào Đức K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Đào Viết N phải chịu 350.000 đồng án phí dân sự trong hình sự.
- Áp dụng Điều 331, Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Trí |
Bản án số 109/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 109/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Viết N và Đào Đức K phạm tội "Trộm cắp tài sản"
