Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày 15 – 5 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đặng Văn Ân
  2. Ông Vũ Huy Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Hồng Q, giới tính: N; sinh năm 1990 tại tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh C và bà Giáp Thị N1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2024.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Ông Trần Văn N2, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: C tổ A, ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Hồng Q và anh Trần Văn N2 làm thuê tại xưởng inox địa chỉ nhà không số, Tổ E, Ấp D, xã V, huyện B. Khoảng 09 giờ ngày 06/10/2022, khi đang ở xưởng inox thì Q hỏi mượn xe mô tô Honda Airblade 150 màu xanh biển số 63P1-399.02 của anh N2 để đi công việc thì anh N2 đồng ý và giao xe cùng chìa khóa xe cho Q. Khi Q đang điều khiển xe mô tô biển số 63P1-399.02 trên đường đi công việc thì bị T (không rõ lai lịch) đòi lại số tiền mà Q đang thiếu nợ nên Q nảy sinh ý định cầm xe mô tô biển số 63P1-399.02 cho T để trừ nợ và có tiền tiêu xài. Sau đó, Q nhắn tin cho T là bản thân muốn cầm xe cho T để trừ nợ thì T đồng ý và hẹn gặp nhau tại quán cà phê “Việt C1” địa chỉ D P, ấp T, xã B, huyện H. Q phát hiện trong cốp xe mô tô biển số 63P1-399.02 có giấy đăng ký xe của anh N2. Tại quán cà phê “Việt C1”, Q cầm xe mô tô biển số 63P1-399.02 cho T với giá 35.000.000 đồng nhưng viết giấy bán xe cho T và hẹn 10 ngày sau sẽ chuộc lại xe. Sau khi trừ 3.000.000 đồng Q thiếu nợ, T đã chuyển vào khoản ngân hàng cho Q 32.000.000 đồng (Q khai không nhớ là tài khoản nào). Q đã sử dụng số tiền này nạp hết vào tài khoản game đánh bài trên mạng “Sun Win” trên điện thoại di động và chơi thua hết số tiền này. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Q gọi điện thoại cho anh N2 hứa hẹn sẽ trả lại xe nhưng sau đó Q không quay lại, anh N2 cũng không liên lạc được với Q nữa. Ngày 11/01/2023, anh N2 tố cáo Đỗ Hồng Q chiếm đoạt xe đến Công an xã V lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý.

Kết luận định giá tài sản số 1101/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: xe mô tô biển số 63P1-399.02 nhãn hiệu Honda, loại Airblade 150 trị giá 41.992.500 đồng. (BL 34-36)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Đỗ Hồng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của anh Trần Văn N2 và các chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. (BL 54-75)

Về dân sự: Anh Trần Văn N2 đã được gia đình bị cáo Đỗ Hồng Q bồi thường số tiền 45.000.000 đồng nên đã làm Đơn bãi nại cho Q. (BL 123)

Cáo trạng số 119/CT-VKSBC ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 và điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định và ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền là 45.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố đúng, không oan, sai; bị cáo rất ăn năn hối hận; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụn tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét thấy lời khai bị cáo Đỗ Hồng Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ ngày 06/10/2022, khi đang ở xưởng inox thì Q hỏi mượn xe mô tô Honda Airblade 150 màu xanh biển số 63P1-399.02 của anh N2 để đi công việc thì anh N2 đồng ý và giao xe cùng chìa khóa xe cho Q. Khi Q đang điều khiển xe mô tô biển số 63P1-399.02 trên đường đi công việc thì bị T (không rõ lai lịch) đòi lại số tiền mà Q đang thiếu nợ nên Q nảy sinh ý định cầm xe mô tô biển số 63P1-399.02 cho T để trừ nợ và có tiền tiêu xài. Sau đó, Q nhắn tin cho T là bản thân muốn cầm xe cho T để trừ nợ thì T đồng ý và hẹn gặp nhau tại quán cà phê “Việt C1” địa chỉ D P, ấp T, xã B, huyện H. Q phát hiện trong cốp xe mô tô biển số 63P1-399.02 có giấy đăng ký xe của anh N2. Tại quán cà phê “Việt C1”, Q cầm xe mô tô biển số 63P1-399.02 cho T với giá 35.000.000 đồng nhưng viết giấy bán xe cho T và hẹn 10 ngày sau sẽ chuộc lại xe. Sau khi trừ 3.000.000 đồng Q thiếu nợ, T đã chuyển vào khoản ngân hàng cho Q 32.000.000 đồng (Q khai không nhớ là tài khoản nào). Q đã sử dụng số tiền này nạp hết vào tài khoản game đánh bài trên mạng “Sun Win” trên điện thoại di động và chơi thua hết số tiền này.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Hồng Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tuy nhiên với mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị còn nhẹ so với hành vi của cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với đối tượng tên T đã nhận cầm xe mô tô biển số 63P1-399.02 của Đỗ Hồng Q, do chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng số tiền 32.000.000 đồng tiền bán xe mô tô biển số 63P1-399.02 để chơi game đánh bài ăn tiền trên mạng “Sun Win”, do không xác định được Q đánh bài với ai, không chứng minh được số tiền dùng để đánh bạc từng ván, từng ngày, chỉ có duy nhất lời khai của Q nên không đủ căn cứ để xử lý Q về tội “Đánh bạc”.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại ông Trần Văn N2 số tiền 45.00.000 đồng và bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo. Xét sự tự nguyện này của bị cáo là không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào điểm a khoản 1, Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hồng Q 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2024.

* Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa; Trại giam T30;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Chánh;
  • - Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án (TP. Dựa).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Dựa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger