Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày: 23/4/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Phạm Thị Mai Anh;
    • Bà Trần Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 01/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Phạm Tùng L
    • Tên gọi khác: Không
    • Giới tính: Nam
    • Sinh ngày 25 tháng 8 năm 2007 (Tại thời điểm phạm tội 16 tuổi 3 tháng 15 ngày)
    • Nơi thường trú: Xóm E, xã X, huyện X, Nam Định.
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 10/12
    • Nghề nghiệp: Không.
    • Con ông: Phạm Văn T (đã chết);
    • Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh 1979;
    • Tiền án, tiền sự: Không.
    • Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ kể từ ngày 11/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – C2.
  2. Họ tên: Nguyễn Tiến P
    • Tên gọi khác: Không
    • Giới tính: Nam
    • Sinh ngày 16 tháng 11 năm 2007 (Tại thời điểm phạm tội 16 tuổi 23 ngày)
    • Nơi thường trú: TDP số 2, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 10/12
    • Nghề nghiệp: Học sinh;
    • Con ông: Nguyễn Tiến H, sinh 1973;
    • Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh 1983;
    • Tiền án, tiền sự: Không;
    • Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ kể từ ngày 11/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – C2.
  3. Họ tên: Trịnh Ngọc C
    • Tên gọi khác: Không
    • Giới tính: Nam
    • Sinh ngày 05 tháng 01 năm 2007 (Tại thời điểm phạm tội 16 tuổi 11 tháng 4 ngày);
    • Nơi thường trú: TDP Bình Thành, thị trấn Bình Mỹ, huyện Bình Lục, Hà Nam
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 10/12
    • Nghề nghiệp: Học sinh
    • Con ông: Trịnh Ngọc T2, sinh 1974;
    • Con bà: Nguyễn Thị Ánh N, sinh 1986;
    • Tiền án, tiền sự: Không.
    • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2023 đến ngày 15/3/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi cư trú.
  4. Họ tên: Hoàng Văn S
    • Tên gọi khác: Không
    • Giới tính: Nam
    • Sinh ngày 19 tháng 7 năm 2007 (Tại thời điểm phạm tội 16 tuổi 4 tháng 21 ngày)
    • Nơi thường trú: Thôn Bá Lam, xã Thanh Cao, huyện Lương Sơn, Hòa Bình
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 09/12
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Con ông: Hoàng Văn N1, sinh 1974;
    • Con bà: Nguyễn Thị O, sinh 1981;
    • Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự
    • - Ngày 26/12/2023, UBND quận N, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Chế tạo, trang bị, tàng trữ, vận chuyển, sửa chữa, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ”. Mức phạt: 7.500.000 đồng.
    • Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ kể từ ngày 11/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – C2.
  5. Họ tên: Nghiêm Văn Q
    • Tên gọi khác: Không
    • Giới tính: Nam
    • Sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007 (Tại thời điểm phạm tội 16 tuổi 5 tháng 13 ngày)
    • Nơi thường trú: TDP số 1, phường P, quận N, Hà Nội.
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 10/12
    • Nghề nghiệp: Học sinh
    • Con ông: Nghiêm Văn T3, sinh 1987;
    • Con bà: Trần Thị T4, sinh 1984;
    • Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự
    • - Ngày 16/01/2023, Công an quận B, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Mang theo người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phường tiện khác có khả năng sát thương, đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, có ý gây thương tích cho người khác” quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Hình thức: Cảnh cáo
    • Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ kể từ ngày 11/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – C2.
  6. Họ tên: Vũ Tuấn A
    • Tên gọi khác: Không
    • Giới tính: Nam
    • Sinh ngày 26 tháng 10 năm 2007 (Tại thời điểm phạm tội 16 tuổi 8 tháng 27 ngày).
    • Nơi thường trú: TDP số 3, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 09/12
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Con ông: Vũ Tuấn H2, sinh 1980;
    • Con bà: Nguyễn Thu H3, sinh 1981.
    • Tiền án, tiền sự: Không.
    • Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 02/02/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – C2.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên toà.

Người đại diện của các bị cáo (đều có mặt):

  • - Người đại diện của bị cáo Hoàng Văn S: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1981 (mẹ đẻ). HKTT: TDP A, phường T, quận N, Hà Nội.
  • - Người đại diện của bị cáo Vũ Tuấn A: Ông Vũ Tuấn H2, sinh năm 1980 (bố đẻ). HKTT: TDP số 3, phường T, quận N, Hà Nội.
  • - Người đại diện của bị cáo Phạm Tùng L: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979 (mẹ đẻ). HKTT: Xóm E, xã X, huyện X, Nam Định.
  • - Người đại diện của bị cáo Nguyễn Tiến P: Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1973 (bố đẻ). HKTT và cư trú: TDP số 2, phường P, quận N, Hà Nội.
  • - Người đại diện của bị cáo Trịnh Ngọc C: Ông Trịnh Ngọc T2, sinh năm 1974 (bố đẻ). HKTT: TDP B, thị trấn B, huyện B, Hà Nam.
  • - Người đại diện của bị cáo Nghiêm Văn Q: Bà Trần Thị T4, sinh năm 1984 (mẹ đẻ). HKTT: TDP số 1, phường P, quận N, Hà Nội.

Người bào chữa cho tất cả các bị cáo: Ông Trương Công Đ – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt).

Bị hại:

Anh Nguyễn Đắc Hoàng H4, sinh ngày 19/6/2007. Người đại diện: Bà Lê Thị Thu H5, sinh năm 1985 (mẹ đẻ). Cùng đăng ký HKTT: Tổ D M, phường T, quận N, Hà Nội (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Văn N1, sinh 1974. Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện L, Hòa Bình (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 10/2023, Phạm Tùng L (Sinh năm: 2007; HKTT: Xóm E, xã X, huyện X, Nam Định) và Nguyễn Tiến P (Sinh năm 2007; HKTT: TDP số 2, phường P, quận N, Hà Nội) có mâu thuẫn với 01 nam thanh niên tên Quốc H6 (chưa xác định nhân thân). Từ ngày 07/12/2023 đến chiều ngày 09/12/2023, nhóm L, Tiến P, Nghiêm Văn Q (Sinh năm 2007; HKTT: TDP số 1, phường P, quận N, Hà Nội), Ngô Duy K (Sinh năm 2007; HKTT: TDP số 6, phường P, quận N, Hà Nội), N2 (chưa xác định nhân thân), Nguyễn Tiến G (Sinh năm 2008; HKTT: TDP số 6, phường P, quận N, Hà Nội), D (chưa xác định nhân thân) biết tin nhóm của Quốc H6 tìm đánh nhóm L và Tiến P ở khu vực đường L, phường P, quận N, Hà Nội vào tối ngày 09/12/2023 nên cả nhóm rủ nhau mang theo “đồ” (hung khí), tụ tập vào tối ngày 09/12/2023 tại quán nước trước trường THCS P2 để đánh nhau với nhóm Quốc H6, tuy nhiên không bàn bạc cụ thể đánh ai, đánh như thế nào.

Sau khi bàn bạc, Q rủ thêm Trịnh Ngọc C (Sinh năm 2007; HKTT: TDP số 6, phường P, quận N, Hà Nội) còn L rủ thêm Hoàng Văn S (Sinh năm 2007; HKTT: Thôn B, xã T, huyện L, Hòa Bình) đi đánh nhau cùng cả nhóm. S rủ thêm Vũ Tuấn A (Sinh năm 2007; HKTT: TDP số C, phường T, quận N, Hà Nội) mang theo dao để đi đánh nhau cùng cả nhóm.

Khoảng hơn 20 giờ ngày 09/12/2023, C, L, Tiến P (mang theo 01 thanh kiếm), N2 (mang theo 01 thanh kiếm), G, D (mang theo 01 thanh kiếm), Q, K đi nhiều xe máy tập trung tại quán nước trước trường THCS P2, phường P, quận N, Hà Nội như đã hẹn.

Khoảng gần 20 giờ cùng ngày, S một mình điều khiển xe máy Honda Wave màu đen-bạc-xanh, BKS: 28H1-53558 đến nhà Tuấn A để đón Tuấn A. Tuấn A mang theo 02 con dao đưa cho S cầm rồi Tuấn A điều khiển xe máy của S chở S ra quán nước trước trường THCS P2, phường P để tụ tập cùng nhóm của L.

Cùng thời gian này, Nguyễn Anh T5 (Sinh năm 2008; HKTT: Khu N, thị trấn H, huyện H, Thái Bình), Nguyễn Văn M (Sinh năm 2008; HKTT: TDP số G, phường M, quận N, Hà Nội), Phạm Đại P1 (Sinh năm 2008; HKTT: Thôn T, xã H, huyện C, Hà Nội), Nguyễn Minh C1 (Sinh năm 2008; HKTT: TDP số A, phường M, quận N, Hà Nội), Phùng Tiến Đ1 (Sinh năm 2010; HKTT: TDP số D, phường M, quận N, Hà Nội), Nguyễn Duy A1 (Sinh năm 2010; HKTT: TDP số 1, phường P, quận N, Hà Nội) cũng tụ tập tại quán nước trường THCS P2. Nhóm T5, M, Đ, C1, Tiến Đ1, Duy A1 thấy nhóm L mang theo dao kiếm đi đánh nhau nên cũng tham gia cùng nhóm của L.

Sau khi tụ tập, tất cả mang theo dao, kiếm (bỏ lại 01 vỏ bao kiếm vào trông cốp xe của Đại P1 còn C1 cầm 01 bao kiếm), chia nhau ra các xe máy (C ở lại quán nước do chưa đủ xe), cụ thể:

  • L đi xe Honda Wave màu xanh-đen, BKS: 92776 của Tiến P chở Tiến P cầm 01 thanh kiếm ngồi sau;
  • N đi xe máy Honda Wave (chưa xác định BKS) chở G (ngồi giữa), D (cầm 01 thanh kiếm) ngồi sau;
  • Q đi xe máy Honda Wave màu đen, BKS: 29L1-93908 của K chở K cầm 01 thanh kiếm (kiếm của N2) ngồi sau;
  • Tuấn A đi xe máy Honda Wave, BKS: 28H1-53558 của S chở S cầm 02 con dao ngồi sau;
  • T5 đi xe máy Honda Wave màu trắng-bạc, BKS: 29L1-93642 của M chở M ngồi sau;
  • Tiến Đ1 đi xe máy Honda Vision chở Duy A1 ngồi sau;
  • Đ đi xe máy Honda Lead màu vàng-nâu, BKS: 90B3-13643 của Đại Phú chở C1 ngồi sau.

Khi vừa lên xe thì cả nhóm phát hiện thấy có một nhóm thanh niên đi khoảng 03-04 xe máy qua đoạn trường THCS P, hướng về Đại lộ T. Nhóm của L nghĩ rằng đây là nhóm Quốc H6 nên cả nhóm hò hét nhau đuổi theo. Cả nhóm đuổi theo đến Đại Lộ T thì phát hiện nhóm này không phải nhóm Quốc H6 nên không đánh mà cùng nhau đi lượn đến Vinhomes S, Đại lộ T, Châu Văn L1, quay lại đường L. Trên đường đi, S đưa cho L 01 con dao rồi L đưa cho K cầm.

Khi cả nhóm ra Lê Quang Đ2 thì vòng lại đi về hướng đường L, đến đoạn cầu sắt trên cao cho người đi bộ thì vòng lại đi về THCS P đón C. C lên xe chở L (ngồi giữa), P ngồi sau. L bảo K đưa L thanh kiếm của N2 rồi Lâm đổi kiếm với P. Sau đó cả nhóm tiếp tục đi về The Matrix O1, vòng lại đi về hướng đường L để tìm nhóm Quốc H6. Khi cả nhóm đi đến đoạn cột đồng hồ (đối diện SVĐ M) thì thấy nhóm Quốc H6 đi nhiều xe máy ở phía đối diện bên đường, hướng về Đại lộ T. Nhóm của L hô hào đuổi theo nhóm Q2 nhưng do khu vực này có hàng rào sắt ngăn cách 02 làn đường nên nhóm L phải đi đến đoạn giao với Tân M1 rồi mới vòng lại để đuổi theo nhóm Quốc H6. Khi nhóm của L đi gần đến phố H thì thấy nhiều nam thanh niên đi khoảng 20-30 xe máy phía trước (trong đó vừa có nhóm Quốc H6, vừa có nhóm H7, D1, L2, B, H4 đang đi chơi). Nhóm của L hò hét, bấm còi inh ỏi, tăng ga đuổi theo tất cả những thanh niên phía trước. Nhóm Quốc H6 cùng nhóm H7, D1, L2, B, H4... thấy bị đuổi nên cùng tăng ga bỏ chạy về hướng Đại lộ T. Trong lúc bỏ chạy, B đi xe máy chở L2 (ngồi giữa), H4 (ngồi sau) rẽ về phía bên trái đường thì gặp Tuấn A chở S đi từ phía sau bên trái lên. Tuấn A dùng chân đạp vào xe của H4 dẫn đến cả hai xe bị ngã ra đường còn S dùng tay phải cầm dao chém 01 phát vào cánh tay trái (gần phần cổ tay) của H4, S bị rơi con dao ra đường. T5, M thấy có va chạm xe nên không muốn tiếp tục tham gia, do vậy T5 chở M đi vào quán C3, ngõ E L ngồi chơi với Nguyễn Xuân Đ3 (Sinh năm 2008; HKTT: Thôn K, xã A, huyện Đ, Thái Bình). Những người còn lại trong nhóm của L tiếp tục đuổi theo nhóm Q2. Sau khi ngã xe, S nhặt 01 viên gạch ở đường định tiếp tục lao vào đánh B, L2, H4 thì L2 hỏi S và Tuấn A là “bạn đi kiểu gì đấy?”. S nghe vậy thì vứt gạch đi và bảo Tuấn A tiếp tục chở S đi đến The Matrix O1 rồi vòng lại đi về hướng Lê Đức T6 để tìm nhóm của L. Bách, L2, H4 không nổ máy được xe nên dắt xe vào vỉa hè trước cổng trường THCS P2 đứng, cầm máu vết thương cho H4.

C chở L, Tiến P; N2 chở G, D; Q chở K vẫn đuổi theo nhóm của Quốc H6 đến Đại lộ T vòng lại đi về hướng Lê Đức T6. Xe của Tiến Đ1, Duy A1, xe của Đại P1, C1, xe của Tuấn A, S đi chậm hơn nên bị tụt lại phía sau. Tuấn A chở S đi đến đoạn cây xăng P3 thì không thấy nhóm của L nên Tuấn A, S rủ nhau đi về trước. Đại Phú, C1 không thấy nhóm của L nên đi ra tòa CT6 gần ngã tư T - L (tại đây, C1 để bao kiếm vào trong cốp xe máy của Đ).

C chở L, Tiến P; N2 chở G, D; Q chở K đuổi theo nhóm Quốc H6 đến ngã tư L - T thì không đuổi nữa và quay đầu đi về hướng Đại lộ T. Khi nhóm của L qua khu vực SVĐ M thì Tiến Đ1, Duy A1 nhìn thấy nhóm của L nên đi theo nhóm của L. C chở L, Tiến P; N2 chở G, D; Q chở K; Tiến Đ1 chở Duy A1 về đến đoạn trước trường THCS P2 thì gặp B, L2, H4 đang đứng tại đây. Vừa thấy B, L2, H4, nghĩ rằng là nhóm Quốc H6 nên nhóm L lao vào dùng dao, kiếm đuổi đánh B, L2, H4. H4 là bỏ chạy được, L dùng sống kiếm vụt 01 phát vào lưng của B. Sau đó, B cũng bỏ chạy được. L, Tiến P, D, N2, G, K, T7 Đ1 lao vào đánh L2. L dùng sống kiếm vụt vào cánh tay trái của L2, dùng chân tay đánh L2; Tiến P dùng tay phải đấm 01 phát vào đầu của L2; K dùng chân phải đá 01 phát vào vùng mặt của L2; G dùng chân trái đá 01 phát vào sườn phải của L2; Tiến Đ1 dùng tay phải đấm 02 phát vào lưng của L2. Thấy L2 nằm ôm đầu một chỗ thì nhóm của L không đánh nữa. Nhóm Công, L, P, Q, K, N2, D, G, Tiến Đ1, Duy A1 đi 04 xe máy đi đến khu vực Vinhomes T rồi đi về làng P. Cả nhóm giấu dao, kiếm tại 01 bụi cỏ trên đê đối diện nhà số G đường K, phường P, quận N, Hà Nội rồi đi ra phố H, ra Lê Quang Đ2 rồi bàn nhau đi về.

Sau khi sự việc xảy ra, T5, M, C1, Tiến Đ1, Đại P1 ra quán cà phê R ngồi chơi cùng Xuân Đ3. Đại Phú đưa 02 bao kiếm cho Xuân Đ3 nhờ Xuân Đ3 cầm hộ. Một lúc sau thì tất cả ra về.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Trịnh Ngọc C, Hoàng Văn S, Nghiêm Văn Q, Vũ Tuấn A, Ngô Duy K, Nguyễn Tiến G, Phùng Tiến Đ1, Nguyễn Duy A1, Nguyễn Anh T5, Nguyễn Văn M, Phạm Đại P1, Nguyễn Minh C1 đã thành khẩn khai báo nội dụng sự việc như trên, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Ngày 02/02/2024, nhận thức hành vi vi phạm pháp luật của bản thân Vũ Tuấn A đã đến cơ quan Công an quận N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) thanh kiếm dài khoảng 90 cm, chuôi kiếm màu vàng-đen dài khoảng 25 cm, kèm theo 01 vỏ bao kiếm màu đen-vàng (thu giữ khi dẫn giải Nguyễn Tiến G);
  • 01 (một) thanh kiếm dài khoảng 80 cm, chuôi kiếm màu đen dài khoảng 25 cm (thu giữ khi dẫn giải Nguyễn Tiến G);
  • 01 (một) thanh kiếm dài khoảng 65 cm, chuôi kiếm màu đen-vàng dài khoảng 20 cm (thu giữ khi dẫn giải Nguyễn Tiến G);
  • 01 (một) vỏ bao kiếm màu đen-vàng dài khoảng 55 cm (thu giữ của Nguyễn Xuân Đ3);
  • 01 (một) vỏ bao kiếm màu đen dài khoảng 60 cm (thu giữ của Nguyễn Xuân Đ3);
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen-bạc, BKS: 28H1-53558, số máy: JA39E1596780, số khung: RLHJA3917LY258973 (thu giữ của Hoàng Văn S).

Do thương tích nhẹ nên anh Đặng Xuân B1 và anh Lưu Phúc L3 từ chối giám định thương tích, không có yêu cầu bồi thường dân sự, không có đề nghị gì khác. Anh Nguyễn Đắc Hoàng H4 đề nghị xử lý các đối tượng có hành vi gây thương tích cho anh H4 theo quy định của pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với của anh H4.

Căn cứ bản Kết luận Giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 53/KLTTCT-TTPY ngày 12/01/2024 của Trung tâm Pháp y – Sở Y xác định:

  • Vết thương, vết mổ 1/3 dưới cẳng tay trái: 03%
  • Vết thương mặt sau trong đầu dưới cẳng tay trái: 01%
  • Mẻ xương trụ trái: 03%

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đắc Hoàng H4 tại thời điểm giám định là: 07% (Bảy phần trăm), áp dụng phương pháp công tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.

Căn cứ vào lời khai của bị hại, của các đối tượng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định thương tích mặt sau trong đầu dưới cẳng tay trái của anh H4 là do Hoàng Văn S và Vũ Tuấn A gây ra.

Ngày 11/12/2023, Ủy ban nhân dân phường P thuộc quận N có công văn số 1725 về việc: đề nghị xử lý nghiêm đối với các đối tượng đi trên 7 xe máy (quá trình điều tra xác định là nhóm đối tượng gồm Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Trịnh Ngọc C, Hoàng Văn S, Nghiêm Văn Q, Vũ Tuấn A, Ngô Duy K, Nguyễn Tiến G, Phùng Tiến Đ1, Nguyễn Duy A1, Nguyễn Anh T5, Nguyễn Văn M, Phạm Đại P1, Nguyễn Minh C1) với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng đi trên các tuyến đường thuộc địa bàn phường P vào ngày 19/12/2023, cầm theo hung khí gây rối, gây mất trật tự công cộng, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân.

Đối với Ngô Duy K, Nguyễn Minh C1, Nguyễn Tiến G, Phạm Đại P1, Nguyễn Anh T5, Nguyễn Văn M do khi thực hiện hành vi phạm tội đều trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (cụ thể K 15 tuổi 11 tháng 10 ngày, C1 15 tuổi 10 tháng 15 ngày, G 15 tuổi 5 tháng 27 ngày, Đ 15 tuổi 2 tháng 15 ngày, Anh T5 15 tuổi 8 tháng 27 ngày, M 15 tuổi 5 tháng 18 ngày) nên Công an quận N đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ... hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng gây sát thương” quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Hình thức phạt: Cảnh cáo;

Đối với Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Công an quận N đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L, Tiến P có hành vi đánh L3, B1 về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Mức phạt: 3.250.000 đồng;

Đối với Ngô Duy K, Nguyễn Tiến G, Công an quận N đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K, G có hành vi đánh L3, B1 về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Hình thức: Cảnh cáo.

Đối với Phùng Tiến Đ1, Nguyễn Duy A1 do khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 14 tuổi (cụ thể: Duy A1 13 tuổi 10 tháng 6 ngày, Đ1 13 tuổi 5 tháng 20 ngày) nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Đ1, Duy A1.

Đối với các đối tượng tên D, N2, nhóm Quốc H6 chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến các đối tượng này để điều tra, xử lý sau.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh-đen-bạc, BKS: 28H1-53558 xác định chủ sở hữu là anh Hoàng Văn N1 (Sinh năm 1974; HKTT: Thôn B, xã T, huyện L, Hòa Bình) là bố của Hoàng Văn S. Anh N1 không biết việc S sử dụng xe của mình để đi đánh nhau ngày 09/12/2023. Căn cứ Bản Kết luận giám định số 1538/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K2 - C2 xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen-bạc, BKS: 28H1-53558, số máy: JA39E1596780, số khung: RLHJA3917LY258973 là nguyên thủy.

Về dân sự: Chị Lê Thị Thu H5 (mẹ của Nguyễn Đắc Hoàng H4) yêu cầu được bồi thường số tiền tổng là 266.412.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 56/CT - VKS ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm:

  • - Bị cáo Hoàng Văn S và Vũ Tuấn A bị truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Trịnh Ngọc C, Nghiêm Văn Q bị truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Ngày 11/4/2024, bị hại Nguyễn Đắc Hoàng H4 và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Đắc Q1 và bà Lê Thị Thu H5 có đơn xin rút yêu cầu khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Vũ Tuấn A. Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh N1 đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe máy cho anh.

Người đại diện cho các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ quan điểm như cáo trạng truy tố. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử

  • Về trách nhiệm hình sự:
  • Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo

    • + Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Trịnh Ngọc C, Nghiêm Văn Q, Vũ Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
    • + Hoàng Văn S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

    Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo:

    • Phạm Tùng L từ 21-24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách 42-48 tháng.
    • + Hình phạt bổ sung: Không.
    • Nguyễn Tiến P từ 18-21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách 36-42 tháng.
    • + Hình phạt bổ sung: Không.
    • Trịnh Ngọc C từ 18-21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách 36-42 tháng.
    • + Hình phạt bổ sung: Không.
    • Vũ Tuấn A từ 21-24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách 42-48 tháng.
    • + Hình phạt bổ sung: Không.

    Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 103, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo:

    • Nghiêm Văn Q từ 18-21 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

    Đề nghị áp dụng a, i khoản 1 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 103, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo:

    • Hoàng Văn S từ 8-11 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; từ 21-24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp chung của cả 2 tội buộc S phải chấp hành 29-35 tháng tù.
  • b) Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) thanh kiếm dài khoảng 90 cm, chuôi kiếm màu vàng-đen dài khoảng 25 cm, kèm theo 01 vỏ bao kiếm màu đen- vàng; 01 (một) thanh kiếm dài khoảng 80 cm, chuôi kiếm màu đen dài khoảng 25 cm; 01 (một) thanh kiếm dài khoảng 65 cm, chuôi kiếm màu đen-vàng dài khoảng 20cm; 01 (một) vỏ bao kiếm màu đen vàng dài khoảng 55 cm; 01 (một) vỏ bao kiếm màu đen vàng dài khoảng 60 cm.

    Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 28H1-53558, số máy JA39E1596780, số khung RLHJA3917LY258973 qua xác minh chủ sở hữu là anh Hoàng Văn N1 (sinh năm 1974, HKTT: Thôn B, xã T, huyện L, Hòa Bình) là bố của bị cáo Hoàng Văn S, Anh N1 không biết việc S sử dụng xe của mình để đi đánh nhau ngày 09/12/203. Do đó, trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Hoàng Văn N1.

  • c) Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự buộc: Áp dụng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự, chi phí bồi thường theo tài liệu anh H4 cung cấp về thương tích và theo quy định của pháp luật:
    • Chi phí khám chữa bệnh: 39.437.880 đồng
    • Chi phí khám ngoài: 300.000 đồng
    • Tiền thuốc: 595.200 đồng
    • Tiền chăm sóc: 26.078.920 đồng
    • Tiền bồi thường tổn thất tinh thần, sức khỏe = 6 tháng lương cơ sở = 10.800.000 đồng.
    • Tổng chi phí bồi thường: 77.212.000 đồng
  • d) Về án phí: Căn cứ vào khoản 1, 2 điều 135, khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật.
  • e) Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi Cố ý gây thương tích của bị cáo Vũ Tuấn A.

- Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo đều phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, còn hạn chế về nhận thức pháp luật để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách giáo dục đối với các bị cáo còn tuổi vị thành niên.

Lời nói sau cùng các bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn của Phạm Tùng L và Nguyễn Tiến P với nhóm thanh niên Q2 (chưa xác định được nhân thân), L và P đã rủ rê, lôi kéo các đối tượng khác tụ tập, mang theo phương tiện và hung khí để đi tìm kiếm và đuổi đánh nhóm “Quốc H6”. Ngày 09/12/2023, các đối tượng gồm Phạm Tùng L, Trịnh Ngọc C, Nguyễn Tiến P, Nghiêm Văn Q, Nguyễn Tiến G, Nguyễn Duy K1, Nguyễn Anh T5, Nguyễn Minh C1, Hoàng Văn S, Nguyễn Duy A1, Phùng Tiến Đ1 do đã có hành vi tụ tập, điều khiển xe máy với tốc độ cao, không đội mũ bảo hiểm, lạng lách đánh võng, hú còi, hò hét, cầm theo hung khí đi chuyển trên tuyến đường L, Đại Lộ T, Trần Hữu D2, Châu Văn L1 thuộc địa bàn phường P, T và các phường khác đều thuộc địa phận quận N để tìm kiếm và đuổi đánh nhóm của “Quốc Hùng”. Ngoài ra, quá trình nhóm của L đuổi đánh nhóm của Quốc H6, xe của Tuấn A chở S gặp xe của Đặng Xuân B1, Lưu Phúc L3, Nguyễn Đắc Hoàng H4. Do S và Tuấn A nhận nhầm nghĩ B1, L3, H4 là nhóm của Quốc H6, mặc dù B1, L3, H4 không có mâu thuẫn với S và Tuấn A nhưng Tuấn A điều khiển xe chở S đã áp sát xe của B1, Lộc H8. Sau đó, S dùng kiếm chém 01 nhát trúng tay trái của anh H8 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7% cho anh H8 còn Tuấn A dùng chân đạp xe của B1, H8, L3 ngã ra đường. Anh H8 có đơn yêu cầu xử lý các đối tượng đã gây thương tích cho anh H8 và yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 266.412.000 đồng.

Các bị cáo thành khẩn khai nhận tội.

  • - Hành vi của bị cáo Hoàng Văn S và Vũ Tuấn A đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
  • - Hành vi của bị cáo Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Trịnh Ngọc C, Nghiêm Văn Q đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi Gây rối trật tự công cộng của các bị cáo Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Trịnh Ngọc C, Nghiêm Văn Q, Hoàng Văn S, Vũ Tuấn A là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Hành vi Cố ý gây thương tích của các bị cáo Hoàng Văn S, Vũ Tuấn A là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác.

Ngày 11/4/2024, bị hại Nguyễn Đắc Hoàng H4 và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Đắc Q1 và bà Lê Thị Thu H5 có đơn xin rút yêu cầu khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Vũ Tuấn A. Đồng thời bị hại Nguyễn Đắc Hoàng H4 và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Đắc Q1 và bà Lê Thị Thu H5 xác nhận đã nhận đủ 70.000.000 đồng tiền gia đình bị cáo Vũ Tuấn A tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường cho anh H4. Như vậy cần phải đình chỉ khởi tố, truy tố, xét xử đối với bị cáo Vũ Tuấn A về hành vi Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a, i, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét vai trò, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo L và bị cáo P là người khởi xướng, rủ bị cáo S và chuẩn bị hung khí. Các bị cáo khác là đồng phạm tham gia tích cực: Bị cáo S rủ bị cáo Tuấn A, bị cáo Q rủ bị cáo C. Bị cáo C chở bị cáo L, Tiến P. Bị cáo Tuấn A dùng chân đạp xe máy của H4 đổ ra đường. Bị cáo S dùng dao chém một phát vào cánh tay phải H4, nhặt gạch định tiếp tục đánh H4, B1, L3.

Tình tiết giảm nhẹ:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình - được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với từng bị cáo:

  • - Bị cáo Tuấn A: Đầu thú, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại Nguyễn Đắc Hoàng H4 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Bị cáo L: Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Bị cáo P: Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, hiện đang theo học lớp 11 tại Trung tâm giáo dục thường xuyên quận N. Gia đình có bà bị cáo là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Bị cáo C: Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, hiện đang học lớp 11 trường Phổ thông Cao đẳng FPT nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên:

Xét thấy đối với bị cáo Hoàng Văn S và Nghiêm Văn Q đều có nhân thân xấu (01 tiền sự). Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo S và bị cáo Q ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới đủ tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi phạm tội hại bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên được áp dụng các quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi theo Điều 90, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xét các bị cáo còn lại: khi phạm tội đều từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế so với người đã thành niên nên các bị cáo được áp dụng các quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi theo Điều 90, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng và đều đang học phổ thông tại các trường nên cần tạo điều kiện cho các bị cáo tiếp tục trở lại trường học. Chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, là người dưới 18 tuổi vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm là:

Cần tịch thu tiêu huỷ:

  • 01 thanh kiếm dài khoảng 90 cm, chuôi kiếm màu vàng – đen dài khoảng 25 cm, kèm theo 01 vỏ bao kiếm màu vàng – đen;
  • 01 thanh kiếm dài khoảng 80 cm, chuôi kiếm màu đen dài khoảng 25 cm;
  • 01 thanh kiếm dài khoảng 65 cm, chuôi kiếm màu vàng – đen dài khoảng 20 cm;
  • 01 vỏ bao kiếm màu đen-vàng dài khoảng 55 cm;
  • 01 vỏ bao kiếm màu đen dài khoảng 60 cm;

Trả lại cho anh Hoàng Văn N1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh đen bạc; BKS: 28H1-53558; số máy: JA39E1596780, số khung: RLHJA3917LY258973.

[8] Về dân sự: Bị hại Nguyễn Đắc Hoàng H4 và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Đắc Q1 và bà Lê Thị Thu H5 yêu cầu bị cáo S và bị cáo Tuấn A bồi thường 266.412.000 đồng. HĐXX xét thấy chấp nhận những khoản bồi thường sau:

  • + Tiền viện phí (có hoá đơn): 39.437.880 đồng;
  • + Tiền khám ngoài: 300.000 đồng;
  • + Tiền thuốc (có hoá đơn): 595.200 đồng;
  • + Tiền bồi dưỡng sức khoẻ: 18.580.000 đồng;
  • + Tiền bồi thường tổn thất tinh thần = 6 tháng lương cơ sở 1.800.000 đồng x 6 tháng = 10.800.000 đồng;
  • + Tiền 05 ngày công chăm bệnh nhân của bà H5 (2.000.000 đồng) + tiền ăn của bà H5, anh H4 (1.200.000 đồng) + tiền đi lại (2.000.000 đồng) + tiền thay băng, rửa vết thương (2.600.000 đồng) = 7.800.000 đồng.
  • Tổng cộng: 77.513.080 đồng.

Như vậy buộc bị cáo Tuấn A và bị cáo S phải liên đới bồi thường cho bị hại H4 77.513.080 đồng. Ghi nhận bị cáo Tuấn A đã tự nguyện bồi thường chp bị hại H4 70.000.000 đồng cho bị hại H4. Buộc bị cáo S phải tiếp tục bồi thường cho bị hại H4 số tiền 7.513.080 đồng. Trường hợp, bị cáo S không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường đủ số tiền trên thì ông Hoàng Văn N1 (bố đẻ của S) và bà Nguyễn Thị O (mẹ đẻ của S) phải tiếp tục bồi thường cho bị hại H4 cho đến khi đủ số tiền 7.513.080 đồng.

Giành quyền khởi kiện cho bị cáo Vũ Tuấn A bằng một vụ án dân sự khác nếu bị cáo Tuấn A có yêu cầu bị cáo Hoàng Văn S phải trả lại số tiền bị cáo Tuấn A đã bồi thường cho anh H4.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bị cáo S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Tùng L, Nguyễn Tiến P, Trịnh Ngọc C, Nghiêm Văn Q, Vũ Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.

  1. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm a, i, khoản 1, Điều 134; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai tội là 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023.

  3. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328; khoản 2 Điều 155; Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự:
  4. Đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” đối với Vũ Tuấn A do bị hại rút đơn yêu cầu.

    Xử phạt bị cáo Vũ Tuấn A 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Vũ Tuấn A cho Ủy ban nhân dân phường T, quận N, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Vũ Tuấn A đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

  5. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:
  6. Xử phạt bị cáo Phạm Tùng L 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Phạm Tùng L cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Phạm Tùng L đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

  7. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:
  8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến P 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Tiến P cho Ủy ban nhân dân phường P, N, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Tiến P đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

  9. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự;
  10. Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc C 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trịnh Ngọc C cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Đối với các bị cáo được hưởng án treo:

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  11. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  12. Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn Q 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023.

  13. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 586, Điều 587; Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.
  14. Vật chứng:

    Tịch thu tiêu huỷ:

    • 01 thanh kiếm dài khoảng 90 cm, chuôi kiếm màu vàng – đen dài khoảng 25 cm, kèm theo 01 vỏ bao kiếm màu vàng – đen;
    • 01 thanh kiếm dài khoảng 80 cm, chuôi kiếm màu đen dài khoảng 25 cm;
    • 01 thanh kiếm dài khoảng 65 cm, chuôi kiếm màu vàng – đen dài khoảng 20 cm;
    • 01 vỏ bao kiếm màu đen-vàng dài khoảng 55 cm;
    • 01 vỏ bao kiếm màu đen dài khoảng 60 cm;

    Trả lại cho anh Hoàng Văn N1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh đen bạc; BKS: 28H1-53558; số máy: JA39E1596780, số khung: RLHJA3917LY258973.

    (Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 145 ngày 26/3/2024).

    Về dân sự:

    Buộc bị cáo Tuấn A và bị cáo S phải liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Đắc Hoàng H4 77. 513.080 đồng. Ghi nhận bị cáo Tuấn A đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Đắc Hoàng H4 70.000.000 đồng. Buộc bị cáo S phải tiếp tục bồi thường cho bị hại H4 số tiền 7. 513.080 đồng. Trường hợp, bị cáo S không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường đủ số tiền trên thì ông Hoàng Văn N1 (bố đẻ của S) và bà Nguyễn Thị O (mẹ đẻ của S) phải tiếp tục bồi thường cho bị hại H4 cho đến khi đủ số tiền 7.513.080 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo S phải chịu 376.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo những phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện theo pháp luật cho bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo; bị hại; người liên quan;
  • - Người đại diện và người bào chữa
  • cho các bị cáo;
  • - Người đại diện cho bị hại
  • - VKSND Q.Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an Q.Nam Từ Liêm;
  • - TT lý lịch-Sở Tư pháp TP.Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Q.Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thuý Anh

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (gây rối trật tự công cộng; cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng; Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn S và đồng phạm phạm tội "Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger